Logo MEILILE — quạt công nghiệp PMSMMEILILEQuạt công nghiệp PMSM
Hỏi đáp kỹ thuật · Cập nhật 10/2026

Chống nóng nhà xưởng mái tôn: quạt trần không làm nguội mái, xử lý mái trước rồi mới tính số quạt

Đội ngũ kỹ thuật MEILILE · Chuyên trách hệ thống thông gió công nghiệp · 09/10/2026 · Đọc 28 phút

Tóm tắt nhanh

Chống nóng nhà xưởng mái tôn bắt đầu từ mái: quạt trần không làm nguội mái tôn và không hạ nhiệt độ không khí, chỉ tạo gió lên người và trộn khí dưới mái. Tính theo công thức của QCVN 04-3:2026/BXD (MEILILE tự tính), mái một lớp tôn có nhiệt trở khoảng 0,21 m²·K/W, chừng 1/5 mức 1,00 m²·K/W của QCVN 09:2017/BXD (văn bản hiện hành tại ngày 09/10/2026, không bắt buộc cho nhà xưởng). Xử lý mái trước, đo lại chiều cao treo, rồi mới tính số quạt.

Câu hỏi về chống nóng nhà xưởng mái tôn thường đến từ ba phía: chủ xưởng thấy công nhân mệt vào buổi trưa, bộ phận kỹ thuật, bảo trì nhà xưởng đang lên dự toán cải tạo, hoặc nhà thầu kết cấu thép và cơ điện đang làm hồ sơ cho một nhà xưởng mới. Các trang của đơn vị thi công mái thường gói cả việc vào một câu: làm lớp cách nhiệt cho mái, rồi “kết hợp thông gió”. Câu đó đúng nhưng bỏ trống hai chỗ mà người làm hồ sơ cần: quạt trần công nghiệp trong một xưởng mái tôn chịu trách nhiệm phần nào và không chịu phần nào, và việc xử lý mái làm thay đổi chiều cao treo, điểm treo, khoảng hút gió phía trên cánh quạt ra sao. Bài này đi theo đúng thứ tự đó: nhiệt đến từ đâu, đường nhiệt nào do ai xử lý, mái xử lý theo những cách nào, sau khi xử lý thì quạt trần phải tính lại những gì. MEILILE không bán vật liệu cách nhiệt và không nhận thi công mái; phần xử lý mái trong bài chỉ nói nguyên lý và các câu cần hỏi đơn vị thi công, không nêu tên vật liệu, thương hiệu hay giá. Số liệu quạt lấy từ bảng thông số dòng DF và công cụ chọn quạt trần HVLS của MEILILE; các ví dụ chiều cao lấy từ công cụ đó; riêng trường hợp có trần treo, ống treo thực tế và khoảng hở phía trên cánh là phép tính tay ghi rõ trong bảng, theo cách nêu ở mục chiều cao treo.

Trong bài: Nhiệt đến từ đâu · Bảng phân việc · Quạt làm được gì · Quy chuẩn về mái · Các cách xử lý mái · Số đo từ nghiên cứu · Chiều cao treo sau xử lý · Điểm treo · Vì sao mái trước · Tính số quạt và nghiệm thu · Hỏi đáp

Nhà xưởng mái tôn nóng từ đâu: năm đường nhiệt đi tới người đứng làm việc

Trong một nhà xưởng khung thép mái tôn, nhiệt tới người công nhân theo năm đường. Tách được từng đường thì mới biết biện pháp nào đánh vào đường nào, và vì sao một chiếc quạt, dù lớn tới đâu, chỉ chạm được vào hai trong năm đường đó.

  1. Bức xạ mặt trời hấp thụ ở mặt trên mái. Phần bức xạ mà tôn giữ lại phụ thuộc hệ số hấp thụ bức xạ mặt trời α của mặt ngoài mái. Phụ lục Đ của QCVN 04-3:2026/BXD (ban hành kèm Thông tư 61/2026/TT-BXD, có hiệu lực từ 01/02/2027; văn bản hiện hành tại ngày 09/10/2026) ghi tôn màu sáng 0,26, tôn màu đen 0,86, thép tráng kẽm mới 0,30 và thép tráng kẽm bám bụi bẩn 0,90; bảng hệ số này cũng có trong phụ lục của QCVN 09:2017/BXD. Đọc theo bảng đó, mái tôn kẽm (thép tráng kẽm) bám bụi bẩn hấp thụ khoảng gấp ba lúc còn mới (0,90 so với 0,30), nên mái sạch hay bẩn ảnh hưởng thật tới lượng nhiệt, chứ không chỉ là chuyện mái đẹp hay xấu. Bảng của quy chuẩn không có dòng riêng cho tôn lạnh (tôn mạ hợp kim nhôm kẽm); bài này không suy hệ số α cho loại tôn đó.
  2. Nhiệt đi xuyên qua lớp tôn. Với tôn dày 0,35 mm, 0,45 mm hoặc 0,50 mm, thép có hệ số dẫn nhiệt 58 W/(m·K) theo Phụ lục B của cùng quy chuẩn. Tính theo công thức tổng nhiệt trở ở Phụ lục A, với hệ số trao đổi nhiệt bề mặt ở Phụ lục C (25 W/(m²·K) cho mặt ngoài, 5,882 W/(m²·K) cho mặt trong khi dòng nhiệt đi xuống), mái chỉ có một lớp tôn có tổng nhiệt trở khoảng 0,21 m²·K/W ở cả ba độ dày đó. Gần như toàn bộ con số đó đến từ hai lớp không khí sát bề mặt; bản thân lá thép gần như không cản nhiệt. Đây là phép tính của MEILILE theo công thức của quy chuẩn, không phải giá trị quy chuẩn ghi sẵn.
  3. Bức xạ từ mặt dưới mái xuống người và sàn. Mặt dưới tôn nóng theo mặt trên, và nó tỏa nhiệt xuống bằng bức xạ. Bức xạ đi thẳng qua không khí, nên cả gió lẫn việc trộn khí đều không chặn được đường này; người đứng dưới mái vẫn thấy nóng hầm hập trên đầu dù không khí quanh người đang chuyển động.
  4. Lớp khí nóng tích dưới mái. Khí nóng nhẹ hơn nên dồn lên sát mái, tạo phân tầng nhiệt: tầng sát mái rất nóng, tầng làm việc oi và bí. Cơ chế này được giải thích ở mục Phá phân tầng nhiệt của bài nguyên lý quạt HVLS.
  5. Nguồn nhiệt bên trong và tường bao. Máy ép, lò sấy, máy nén, dàn hàn, chính người lao động, và tường tôn hứng nắng chiều. Xử lý mái không chạm tới nhóm này; chúng cần hút tại nguồn, che chắn nguồn nhiệt hoặc thông gió.
Nhà xưởng mái tôn nóng từ đâu: năm đường nhiệt đi tới người đứng làm việc
Mái tôn hấp thụ bao nhiêu bức xạ: hệ số hấp thụ bức xạ mặt trời α của mặt ngoài mái theo Phụ lục Đ của QCVN 04-3:2026/BXD (có hiệu lực từ 01/02/2027; văn bản hiện hành tại ngày 09/10/2026), tôn màu sáng 0,26, tôn màu đen 0,86, thép tráng kẽm mới 0,30, thép tráng kẽm bám bụi bẩn 0,90; bảng hệ số này cũng có trong phụ lục của QCVN 09:2017/BXD. Mái tôn kẽm bám bụi bẩn hấp thụ khoảng gấp ba lúc còn mới (0,90 so với 0,30); bảng không có dòng riêng cho tôn lạnh. Quạt trần không làm nguội mái tôn; phần bức xạ này do cách xử lý mặt mái quyết định.

Mái chiếm bao nhiêu phần trăm tổng nhiệt của một nhà xưởng? Chúng tôi chưa tìm được khảo sát công bố nào đo tỷ lệ này cho nhà xưởng một tầng mái tôn ở vùng nhiệt đới. Con số hay được trích dẫn đến từ nghiên cứu về nhà ở nhiệt đới, mái bê tông, nên không áp được sang nhà xưởng, và bài này không đưa con số phần trăm nào. Điều MEILILE đánh giá được từ cấu tạo công trình là thứ tự: ở một xưởng không có lò hay máy phát nhiệt lớn, mái là bề mặt nhận nắng rộng nhất và có nhiệt trở thấp nhất, hoặc ngang tường tôn, trong vỏ công trình, nên nó là chỗ đầu tiên cần nhìn khi xưởng nóng vào giữa trưa. Ở xưởng có lò, máy ép nhiệt hoặc dàn hàn dày đặc, nguồn nhiệt bên trong có thể lớn ngang hoặc lớn hơn, và thứ tự phải xét theo từng khu.

Đường nhiệt nào do ai xử lý: bảng phân việc giữa mái, thông gió và quạt

Bảng dưới đặt năm đường nhiệt ở mục trên cạnh câu hỏi quạt trần công nghiệp có xử lý được hay không, và nhóm biện pháp nào xử lý trực tiếp. Cột “quạt trần DF” nói về quạt trần HVLS dòng DF của MEILILE; quạt di động YF có cùng giới hạn ở các đường bức xạ và khí nóng dưới mái.

Đường nhiệt nào do ai xử lý: bảng phân việc giữa mái, thông gió và quạt
Phân việc chống nóng nhà xưởng mái tôn theo từng đường nhiệt: quạt trần làm khối khí trong xưởng chuyển động, không chặn bức xạ và không đưa nhiệt ra ngoài
Đường nhiệtBiểu hiện trong xưởngQuạt trần DF có xử lý khôngBiện pháp xử lý trực tiếp
Bức xạ mặt trời hấp thụ ở mặt trên máiMặt mái nóng nhất vào giờ trưa; mặt kẽm bám bụi bẩn hấp thụ nhiều nắng hơn lúc còn mớiKhôngLớp phủ phản xạ, vệ sinh mái, mái hai lớp có khe thông gió
Nhiệt xuyên qua tôn và bức xạ từ mặt dưới máiĐứng dưới mái thấy nóng trên đầu dù có gióKhông chặn được; gió giúp cơ thể thải nhiệt dễ hơnLớp cách nhiệt sát mái, trần treo cách nhiệt
Lớp khí nóng tích dưới máiChênh lệch nhiệt độ lớn giữa tầng sát mái và tầng làm việcCó: trộn khí, thu hẹp chênh lệch; mức giảm phải đo tại chỗThông gió mái, quạt hút xả khí nóng ra ngoài
Nguồn nhiệt bên trong (máy, lò, người)Điểm nóng quanh máy và lòKhông lấy nhiệt ra; người trong vùng gió thấy mát hơnHút tại nguồn, che chắn nguồn nhiệt, thông gió; quạt di động YF thổi điểm nóng
Gió tại chỗ đứng quá yếuKhí đứng, oi, mồ hôi không khôCó: quyết định trực tiếpQuạt trần DF, quạt di động YF

Đọc bảng theo cột thứ ba: quạt trần có việc ở hai dòng cuối và một phần dòng giữa. Hai dòng đầu, nơi nhiệt đi vào qua mái, là việc của lớp vỏ công trình; dòng giữa là việc của thông gió mái, quạt trần chỉ trộn lớp khí đó xuống. Đây cũng là lý do bài so sánh các giải pháp làm mát (quạt trần HVLS, quạt nhỏ, cooling pad, điều hòa) không xếp cách nhiệt mái vào cùng hàng: các thiết bị đó đều làm việc với không khí bên trong, còn mái là chuyện của nhiệt đi vào. Bài này không so các thiết bị làm mát với nhau; nó chỉ đặt mái và quạt vào đúng thứ tự.

Dòng thứ ba cần đọc kỹ. Thông gió mái và quạt hút đưa lớp khí nóng ra khỏi xưởng; quạt trần trộn lớp khí đó xuống tầng làm việc. Hai việc này khác nhau: quạt trần làm chênh lệch giữa hai tầng hẹp lại nhưng nhiệt vẫn ở trong xưởng. Vị trí của quạt hút và thông gió mái giữa các loại quạt công nghiệp có ở nhóm 2 của bài các loại quạt công nghiệp; khi nào xưởng thiếu thông gió chứ không thiếu gió có ở bài quạt trần công nghiệp hay hệ thống thông gió.

Quạt trần công nghiệp làm được gì và không làm được gì dưới mái tôn

Cơ chế làm mát của quạt trần HVLS đã có bài riêng, nên ở đây chỉ dẫn lại kết luận. Bài nguyên lý làm mát của quạt trần công nghiệp HVLS đặt ngay ở tiêu đề: quạt “không hạ nhiệt độ không khí”. Nó làm mát bằng hai cơ chế: hiệu ứng gió (vì sao người thấy mát mà nhiệt kế đứng yên) và phá phân tầng nhiệt. Cũng bài đó có mục khi nào quạt HVLS không giải quyết được bài toán, và ghi rõ nhiệt từ mái tôn, từ máy móc và từ người vẫn nằm nguyên trong xưởng; quạt chỉ phân bố lại lượng nhiệt ấy.

Quạt trần công nghiệp làm được gì và không làm được gì dưới mái tôn

Bài tiêu chuẩn nhiệt độ nhà xưởng nói cùng điều đó bằng ngôn ngữ của quan trắc: quạt không đổi số đo nhiệt kế, không đổi chênh lệch trong nhà và ngoài trời, không chặn được bức xạ nhiệt; ở dòng bức xạ, biện pháp ghi trong bảng là che chắn nguồn nóng và cách nhiệt mái tôn.

Ghép kết luận của hai bài đó vào trường hợp mái tôn, ta có một khẳng định đúng với mọi nhà xưởng: quạt trần không làm nguội mái tôn. Nhiệt độ của mái do nắng chiếu lên mặt ngoài và do khả năng cản nhiệt của lớp vỏ quyết định; quạt không đổi lượng nắng mà mái hấp thụ và không thêm nhiệt trở cho lớp vỏ. Kể cả khi luồng gió quét qua mặt dưới mái, phần nhiệt mái nhả ra chỉ chuyển vào khối khí trong xưởng, không ra ngoài. Quạt cũng không hạ nhiệt độ không khí trong xưởng. Điều quạt làm được là cho người đứng làm việc có gió, để cơ thể thải nhiệt bằng bay hơi mồ hôi, và kéo lớp khí nóng dưới mái xuống trộn đều. Hai việc đó có giá trị thật, nhưng chúng không làm được phần việc của mái, và ngược lại xử lý mái cũng không tạo ra gió tại chỗ đứng.

Vì vậy, với mọi nhà xưởng mái tôn, MEILILE trả lời theo một thứ tự: xử lý mái trước, đo lại chiều cao treo, rồi mới tính số quạt. MEILILE không bán vật liệu cách nhiệt, không nhận thi công chống nóng mái; phần mái do chủ đầu tư chọn đơn vị thi công. Phần của MEILILE bắt đầu từ lúc biết mái sẽ được xử lý thế nào, vì điều đó quyết định chiều cao treo, cỡ quạt và vị trí điểm treo.

Quy chuẩn nào nói về nhiệt trở của mái, và có bắt buộc cho nhà xưởng không

Người làm hồ sơ thường hỏi có quy chuẩn nào bắt mái nhà xưởng phải đạt một mức cách nhiệt không. Câu trả lời ngắn: các văn bản hiện hành tại ngày 09/10/2026 có con số cho mái, nhưng phạm vi của chúng không gồm nhà xưởng. Dưới đây là từng văn bản và phạm vi của nó.

Quy chuẩn nào nói về nhiệt trở của mái, và có bắt buộc cho nhà xưởng không
  • QCVN 09:2017/BXD, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về các công trình xây dựng sử dụng năng lượng hiệu quả, ban hành kèm Thông tư 15/2017/TT-BXD ngày 28/12/2017; trang tra cứu quy chuẩn tieuchuanxaydung.vsqi.gov.vn ghi trạng thái còn hiệu lực (văn bản hiện hành tại ngày 09/10/2026). Mái bằng và mái có độ dốc dưới 15° nằm ngay trên không gian có điều hòa phải có tổng nhiệt trở R0,min không nhỏ hơn 1,00 m²·K/W; tường ngoài 0,56 m²·K/W. Quy chuẩn chỉ áp cho công trình có tổng diện tích sàn từ 2.500 m² trở lên thuộc sáu loại: văn phòng, khách sạn, bệnh viện, trường học, thương mại dịch vụ, chung cư; và phần vỏ công trình chỉ áp cho không gian có điều hòa không khí. Nhà xưởng không có trong danh sách, nên với nhà xưởng không điều hòa, mức 1,00 m²·K/W không bắt buộc; nó chỉ dùng được làm mốc so sánh. Riêng khối văn phòng trong khuôn viên nhà máy, nếu tự nó có tổng diện tích sàn từ 2.500 m² trở lên, thuộc loại văn phòng làm việc và cần chủ đầu tư cùng đơn vị tư vấn xét riêng.
  • QCVN 04-3:2026/BXD, công trình dân dụng, phần 3: công trình xây dựng sử dụng năng lượng hiệu quả, ban hành kèm Thông tư 61/2026/TT-BXD, có hiệu lực từ 01/02/2027 và thay thế QCVN 09:2017/BXD từ ngày đó (văn bản hiện hành tại ngày 09/10/2026). Mức 1,00 m²·K/W cho mái giữ nguyên, phạm vi vẫn là sáu loại công trình dân dụng từ 2.500 m² (văn phòng làm việc, khách sạn, bệnh viện, trường học, trung tâm thương mại, nhà chung cư) và không gian có điều hòa; nhà xưởng vẫn không có trong danh sách. Dự án đã được phê duyệt hoặc đã nộp hồ sơ thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi trước 01/02/2027 được tiếp tục áp dụng QCVN 09:2017/BXD.
  • TCVN 9258:2012 Chống nóng cho nhà ở, hướng dẫn thiết kế, công bố theo Quyết định 3621/QĐ-BKHCN; trang tra cứu tiêu chuẩn tieuchuan.vsqi.gov.vn ghi còn hiệu lực (văn bản hiện hành tại ngày 09/10/2026). Phạm vi là thiết kế chống nóng cho các loại nhà ở khi xây mới hoặc cải tạo, không áp cho nhà xưởng. Bản đầy đủ là tài liệu có phí; bài này không trích con số nào từ tiêu chuẩn đó.

Hai quy chuẩn năng lượng có ba điều chỉnh đáng biết vì chúng nói thẳng tới các cách xử lý mái ở mục sau: mặt ngoài mái dùng vật liệu phản xạ có hệ số phản xạ 0,70–0,75 thì R0,min được nhân 0,80; mái dốc từ 15° trở lên được nhân 0,85; và mái có lớp che nắng thông gió cố định cách mặt mái từ 0,3 m trở lên, phủ trên 90% diện tích mái, thì không phải theo yêu cầu nhiệt trở. Tức là quy chuẩn cho phép giảm mức nhiệt trở phải đạt khi mặt mái phản xạ tốt hoặc mái dốc từ 15°, và miễn yêu cầu này khi có lớp che nắng thông gió đạt điều kiện.

So với mốc 1,00 m²·K/W, mái chỉ có một lớp tôn ở mục đầu (khoảng 0,21 m²·K/W theo phép tính của MEILILE) chỉ đạt khoảng 21%, tức khoảng một phần năm. Con số đó không có nghĩa nhà xưởng “vi phạm” gì; nó cho thấy vì sao nhiệt từ mặt tôn bị nắng đốt đi xuống gần như không bị cản. Nhà xưởng muốn dùng mốc này làm mục tiêu thiết kế thì đó là lựa chọn của chủ đầu tư và đơn vị tư vấn, không phải nghĩa vụ theo các văn bản trên.

Bốn nhóm cách xử lý mái tôn: chặn đường nhiệt nào và phải hỏi đơn vị thi công những gì

Các cách chống nóng mái tôn nhà xưởng trên thị trường có rất nhiều tên gọi, nhưng xét theo đường nhiệt mà chúng chặn thì gom được vào bốn nhóm. Bảng dưới không nêu vật liệu, thương hiệu hay giá; cột thứ ba là phần MEILILE cần biết để tính quạt, cột thứ tư là câu hỏi nên đặt cho đơn vị thi công mái trước khi ký.

Bốn nhóm cách xử lý mái tôn theo loại (không nêu vật liệu, thương hiệu, giá): đường nhiệt bị chặn, ảnh hưởng tới việc lắp quạt trần và câu hỏi cho đơn vị thi công
Cách xử lý mái (theo loại)Chặn đường nhiệt nàoẢnh hưởng tới lắp quạt trầnHỏi đơn vị thi công
Lớp phủ phản xạ, sơn chống nóng mặt trên máiGiảm phần bức xạ mặt trời mà tôn hấp thụ (hệ số α)Không đổi chiều cao treo, không đụng tới vì kèoHệ số phản xạ của lớp phủ là bao nhiêu, đo theo phương pháp nào; giữ được bao lâu khi bám bụi; lịch vệ sinh mái
Lớp cách nhiệt sát mái (tôn cách nhiệt nhiều lớp, lớp cách nhiệt trải trên xà gồ, phun cách nhiệt mặt dưới tôn)Tăng nhiệt trở, giảm nhiệt xuyên qua tôn và bức xạ từ mặt dưới máiChiều cao tới đáy vì kèo thường không đổi; thêm tải lên xà gồ, vì kèo; lớp phun có thể phủ lên bản cánh vì kèo chỗ cần kẹp điểm treoTổng nhiệt trở R0 của cả cấu tạo mái tính theo phương pháp nào; khối lượng tăng thêm trên mỗi m² và kỹ sư kết cấu đã kiểm chưa; chừa vị trí điểm treo quạt trước khi phun
Trần treo cách nhiệt dưới vì kèo (trần panel, trần thả)Tạo lớp đệm giữa mặt dưới tôn và không gian làm việcHạ chiều cao thông thủy; cánh phải nằm dưới trần, phía trên cánh còn tối thiểu 0,6 m tới mặt dưới trần; ống treo xuyên qua trần, điểm treo vẫn ở vì kèoCao độ mặt dưới trần; khung trần có chừa lỗ và vị trí cho ống treo không; khoảng không trên trần có đường thoát nhiệt không
Mái hai lớp có khe thông gió, cửa mái (nóc gió), quả cầu thông gió, quạt hút máiĐưa lớp khí nóng dưới mái ra ngoàiKhông đổi chiều cao treo khi các bộ phận nằm trên vì kèo; quạt trần vẫn lo gió tại chỗ đứngLưu lượng thông gió tính theo thể tích xưởng và bao nhiêu lần trao đổi khí mỗi giờ; cửa cấp gió ở tầng thấp đặt ở đâu, diện tích bao nhiêu

Vài điểm về nguyên lý của từng nhóm, đủ để người làm hồ sơ đọc được báo giá của đơn vị thi công:

  • Lớp phủ phản xạ xử lý ngay từ khâu đầu: phần nắng bị phản xạ đi thì không biến thành nhiệt trong tôn. Bảng hệ số α ở mục đầu cho thấy bề mặt sạch hay bẩn thay đổi kết quả rất nhiều (thép tráng kẽm 0,30 khi mới, 0,90 khi bám bụi bẩn), nên câu hỏi về độ bền và lịch vệ sinh quan trọng ngang câu hỏi về lớp phủ lúc mới thi công.
  • Cách nhiệt sát mái đánh vào nhiệt xuyên qua tôn. Con số so sánh được giữa các phương án là tổng nhiệt trở R0 của cả cấu tạo mái, tính theo cùng một phương pháp; mốc 1,00 m²·K/W ở mục quy chuẩn là cách đọc xem phương án đang ở đâu so với mức của công trình điều hòa. Một báo giá chỉ ghi độ dày mà không ghi R0 thì chưa so được với báo giá khác.
  • Trần treo cách nhiệt tạo thêm một lớp vỏ thứ hai bên dưới mái. Với quạt trần, đây là nhóm ảnh hưởng nhiều nhất, vì nó hạ chiều cao thông thủy và thêm một vật cản ngay phía trên cánh; mục tiếp theo tính cụ thể.
  • Thông gió mái không chặn nhiệt đi vào mà đưa nhiệt đã vào ra ngoài, và không làm đổi chiều cao treo quạt. Thứ tự giữa thông gió và quạt trần theo mục phân vai ba giải pháp của bài nguyên lý: ở xưởng có nguồn nhiệt bên trong lớn hoặc có hơi, khói, theo đánh giá kỹ thuật của MEILILE, hạng mục thông gió này phải có trong phương án và làm trước khi tính gió tại chỗ đứng; ở xưởng khác, có thể chốt quạt trần cùng lúc với thông gió. MEILILE không bán quạt hút hay quạt thông gió mái, nên bài này không nêu lưu lượng; con số đó do đơn vị thiết kế thông gió tính.

Một chi tiết hay bị bỏ qua ở nhóm phun cách nhiệt: điểm treo quạt trần DF trên mái tôn khung thép là kẹp ôm bản cánh dưới vì kèo, không hàn, không khoan phá. Nếu lớp phun phủ kín bản cánh đó, đội lắp quạt phải xử lý lại bề mặt kẹp. Theo khuyến nghị của MEILILE, khi đã biết xưởng sẽ lắp quạt trần, chốt vị trí điểm treo trên bản vẽ và báo đơn vị thi công mái chừa sẵn các vị trí đó.

Số đo từ các nghiên cứu: nhiệt độ mặt mái giảm nhiều, nhiệt độ không khí trong nhà giảm ít

Chúng tôi chưa tiếp cận được toàn văn nghiên cứu công bố nào đo nhiệt độ mái tôn hay nhà xưởng mái tôn ở Việt Nam; các con số về “giảm bao nhiêu độ” mà chúng tôi gặp trên mạng đều đến từ trang của đơn vị bán vật liệu hoặc thi công và không công bố phương pháp đo, nên bài này không dùng. Ba nghiên cứu dưới đây ở khí hậu nhiệt đới lân cận, có phương pháp và có số đo, và cả ba đều cho thấy cùng một khoảng cách: thứ giảm nhiều nhất là nhiệt độ bề mặt mái hoặc mặt dưới trần, thứ giảm ít hơn nhiều là nhiệt độ không khí ở chỗ người đứng.

  • Lớp phủ phản xạ trên mái kim loại của một nhà sinh hoạt cộng đồng, Indonesia (Citraningrum, Iyati, Wardoyo; IOP Conference Series: Earth and Environmental Science, tập 1404, bài 012038, năm 2024). Lớp sơn phản xạ làm nhiệt độ cao nhất ở mặt trên mái giảm tới 6,6 °C và ở mặt dưới mái giảm tới 6,3 °C, nhưng nhiệt độ không khí cao nhất trong nhà chỉ giảm tới 0,8 °C ở cao độ 120 cm trên sàn và 1,2 °C ở vị trí 50 cm dưới mái.
  • Mái xanh (mái trồng cây, không phải lớp cách nhiệt) trên mái tôn của một nhà xưởng, Thái Lan (Tubsuwan, Sunakorn, Yimprayoon; Academic Journal of Architecture, số 68, năm 2019). Mặt ngoài mái xanh thấp hơn mặt mái tôn để trơn (không phủ, không cách nhiệt) khoảng 30 °C; không chạy điều hòa, nhiệt độ trong nhà ban ngày giảm 2–3 °C, ban đêm giảm 1–1,5 °C. Phần tóm tắt của nghiên cứu chỉ nêu mức giảm, không nêu nhiệt độ đo được của mặt mái và trong nhà.
  • Lớp cách nhiệt dưới tôn của nhà thử nghiệm nhỏ, Thái Lan (Amatayakul, Pukdum và cộng sự; The Journal of Industrial Technology, Đại học Suan Sunandha Rajabhat, tập 11, số 1, năm 2023). Ba nhà thử nghiệm mái tôn một dốc 5°, đo vào mùa nóng. Với lớp bông thủy tinh 50 mm dưới tôn, nhiệt truyền qua trần trung bình chỉ còn khoảng một nửa so với nhà đối chứng, nhiệt độ cao nhất của mặt dưới trần trên ảnh nhiệt là 34,0 °C so với 39,8 °C ở nhà đối chứng, và nhiệt độ không khí trong phòng thấp hơn nhà đối chứng 1,7 °C. Đây là nhà thử nghiệm, không phải nhà xưởng.

Các con số trên là kết quả của từng nghiên cứu, ở công trình, vật liệu và thời tiết của nghiên cứu đó; chúng không phải mức mà một nhà xưởng cụ thể sẽ đạt, và MEILILE không cam kết bất kỳ mức giảm nhiệt độ nào, dù cho riêng việc xử lý mái hay cho xử lý mái cộng quạt. Điểm chung của cả ba nghiên cứu: xử lý mái làm mặt mái (với lớp phủ phản xạ, mái xanh) hoặc mặt dưới trần (với lớp cách nhiệt) bớt nóng rõ rệt, tức là cắt bớt bức xạ chiếu xuống đầu người; nhiệt độ không khí giảm ít hơn, vì không khí trong xưởng còn chịu nhiệt từ máy, từ người và từ không khí ngoài trời. Phần “người thấy mát” sau khi mái đã bớt bức xạ là chỗ của gió: quạt trần cho vùng rộng, quạt di động cho điểm nóng.

Xử lý mái làm thay đổi gì ở quạt trần: chiều cao thông thủy, khoảng hút 0,6 m và cỡ quạt

Công cụ chọn quạt trần HVLS của MEILILE dùng năm con số cố định cho phần chiều cao. Thứ nhất là chiều cao tối thiểu tới điểm treo để lắp vừa từng cỡ: DF-30 (Ø3,0 m) cần 3,4 m, DF-40 (Ø4,0 m) cần 3,8 m, DF-50 (Ø5,0 m) cần 4,2 m, DF-60 (Ø6,0 m) cần 5,0 m, DF-73 (Ø7,3 m) cần 6,0 m. Thứ hai, từ điểm treo kết cấu xuống mặt phẳng cánh có một khoảng cố định 0,4 m. Thứ ba, ống treo ngắn nhất 0,3 m. Thứ tư, phía trên cánh phải chừa khoảng hút gió tối thiểu 0,6 m tới mái, vì kèo hoặc vật cản phía trên. Thứ năm, ở khu có người đứng hoặc đi lại, cánh cần cách sàn từ 3,0 m; mức 2,5 m chỉ là ngưỡng cảnh báo thấp nhất của công cụ.

Hai con số đầu và cuối hay bị gộp làm một, nên tách riêng. Chiều cao tối thiểu chỉ là điều kiện để một cỡ quạt lắp vừa. Cánh cách sàn là chuyện khác: cao độ cánh bằng chiều cao tới điểm treo trừ 0,4 m và trừ chiều dài ống treo, nên cánh luôn thấp hơn điểm treo ít nhất 0,7 m, và muốn cánh cách sàn 3,0 m thì điểm treo phải cao từ 3,7 m.

Xử lý mái chạm vào những con số này theo hai cách. Lớp phủ phản xạ, lớp cách nhiệt sát mái và thông gió mái thường không đổi chiều cao tới đáy vì kèo, nên quạt tính như mái chưa xử lý; chỉ cần đo lại tại chỗ, vì một số cấu tạo mái có thể hạ thấp vật cản phía trên cánh. Trần treo cách nhiệt thì khác: nó là một vật cản nằm ngay phía trên cánh, nên theo quy tắc chừa tối thiểu 0,6 m tới mái, vì kèo hoặc vật cản phía trên (bài nguyên lý), cánh phải nằm dưới mặt trần mới và khoảng hở phía trên cánh phải tính tới mặt dưới trần. Công cụ chọn quạt chưa có ô riêng cho trần treo, nên trong các ví dụ dưới đây chúng tôi dùng một cách tính minh họa: nhập cao độ mặt dưới trần làm chiều cao vào công cụ để có cỡ quạt và cao độ cánh, rồi tính tay ống treo thực tế; điểm treo vẫn ở vì kèo phía trên, nên ống treo dài thêm đúng bằng phần trần hạ xuống. Cách tính này chưa thay khảo sát: cỡ quạt và cao độ cánh do kỹ sư MEILILE chốt sau khảo sát kết cấu. Bảng dưới là kết quả cho hai nhà xưởng khung thép ví dụ, trước và sau khi làm trần treo cách nhiệt.

Ví dụ minh họa, chưa thay khảo sát: chạy công cụ chọn quạt trần HVLS của MEILILE với chiều cao = cao độ mặt dưới trần (nếu có), ống treo thực tế tính tay, trước và sau khi làm trần treo cách nhiệt (khung thép, chỉ xét chiều cao, chưa xét cạnh ngắn của gian; ống treo thực tế = chiều cao tới đáy vì kèo − 0,4 m − cao độ cánh; tải thiết kế điểm treo = khối lượng tịnh × 6 cho máy kèm ống treo 500 mm, dòng có trần treo cộng thêm phần ống treo dài thêm sau khảo sát)
Trường hợpChiều cao dùng để chọn quạtCỡ lớn nhất lắp vừaCánh cách sànỐng treo thực tếKhoảng hở phía trên cánhTải thiết kế điểm treoĐạt mốc 3,0 m cho người đứng
Đáy vì kèo 6,0 m, mái chưa làm trần6,0 m (đáy vì kèo)DF-73 (Ø7,3 m)5,3 m0,3 m0,7 m tới vì kèo≥660 kgCó
Đáy vì kèo 6,0 m, trần treo ở 5,0 m5,0 m (mặt dưới trần)DF-60 (Ø6,0 m)4,3 m1,3 m0,7 m tới mặt dưới trần≥570 kg + phần ống treo dài thêm (cộng sau khảo sát)Có
Đáy vì kèo 4,5 m, mái chưa làm trần4,5 m (đáy vì kèo)DF-50 (Ø5,0 m)3,8 m0,3 m0,7 m tới vì kèo≥420 kgCó
Đáy vì kèo 4,5 m, trần treo ở 3,8 m3,8 m (mặt dưới trần)DF-40 (Ø4,0 m)3,1 m1,0 m0,7 m tới mặt dưới trần≥282 kg + phần ống treo dài thêm (cộng sau khảo sát)Có
Đáy vì kèo 4,5 m, trần treo ở 3,6 m3,6 m (mặt dưới trần)DF-35 (Ø3,5 m)khoảng 2,9 m1,2 m0,7 m tới mặt dưới trần≥240 kg + phần ống treo dài thêm (cộng sau khảo sát)Không; khu có người đứng dùng quạt di động YF
Xử lý mái làm thay đổi gì ở quạt trần: chiều cao thông thủy, khoảng hút 0,6 m và cỡ quạt
Ví dụ minh họa, chưa thay khảo sát: khung thép, đáy vì kèo 4,5 m, chạy công cụ chọn quạt trần HVLS của MEILILE với chiều cao = cao độ mặt dưới trần (nếu có), ống treo thực tế tính tay. Mái chưa làm trần thì chiều cao dùng để chọn quạt là 4,5 m, cỡ lớn nhất lắp vừa DF-50 (Ø5,0 m), cánh cách sàn 3,8 m, ống treo thực tế 0,3 m, khoảng hở phía trên cánh 0,7 m tới vì kèo, tải thiết kế điểm treo ≥420 kg. Thêm trần treo cách nhiệt, mặt dưới trần ở 3,8 m: DF-40 (Ø4,0 m), cánh cách sàn 3,1 m, ống treo thực tế 1,0 m, khoảng hở phía trên cánh 0,7 m tới mặt dưới trần, ≥282 kg cộng phần ống treo dài thêm sau khảo sát. Điểm treo vẫn ở vì kèo. Trần ở 3,6 m thì cánh chỉ còn khoảng 2,9 m, không đạt mốc 3,0 m cho người đứng. Ống treo thực tế = chiều cao tới đáy vì kèo − 0,4 m − cao độ cánh; tải thiết kế điểm treo = khối lượng tịnh × 6 cho máy kèm ống treo 500 mm, ống treo dài hơn cộng thêm sau khảo sát.

Ba điều đọc ra từ bảng. Một, trần treo không chỉ làm quạt treo thấp hơn mà có thể đổi cả cỡ quạt: ở xưởng đáy vì kèo 4,5 m, trần treo ở 3,8 m làm cỡ lớn nhất lắp vừa đổi từ DF-50 sang DF-40, và trần ở 3,6 m chỉ còn DF-35 với cánh cách sàn khoảng 2,9 m, không đạt mốc 3,0 m cho người đứng. Ở chiều cao đó, khu có người đứng làm việc nên dùng quạt di động YF thay cho quạt trần. Hai, ống treo dài thêm (từ 0,3 m lên 1,0 m, hoặc từ 0,3 m lên 1,3 m) vẫn bắt vào cùng vì kèo; ống dài hơn, khung phụ và giằng chống lắc được cộng vào tải sau khảo sát; con số ≥282 kg ở dòng có trần treo nhỏ hơn ≥420 kg chỉ vì quạt nhỏ hơn, không có nghĩa trần treo làm giảm tải điểm treo. Ba, khoảng hở phía trên cánh ở cả hai trường hợp đều là 0,7 m, nhưng ở dòng có trần treo, khoảng đó tính tới mặt dưới trần. Treo quạt theo chiều cao vì kèo cũ mà quên trần mới thì cánh nằm sát trần, mất khoảng hút gió, và như bài nguyên lý ghi, quạt vẫn quay đủ vòng nhưng cột khí đi xuống yếu hẳn.

Điểm treo vẫn ở vì kèo: quạt trần không treo lên tấm cách nhiệt hay trần treo

Câu hỏi này đã có câu trả lời ở mục về trần panel cách nhiệt trong bài giải pháp cho nhà máy thực phẩm: trần đó không dùng làm điểm treo quạt. Nguyên văn kết luận ở đó: các lớp này “được thiết kế để giữ nhiệt và giữ vệ sinh, không phải để chịu tải treo”; cách làm đúng là khoét lỗ cho ống treo xuyên qua và bịt kín cổ lỗ, còn điểm treo bắt vào kết cấu chịu lực phía trên. Điều đó áp nguyên vẹn cho mọi trần treo cách nhiệt, tấm cách nhiệt, lớp phun hay lớp chống thấm dưới mái tôn ở nhà xưởng bất kỳ ngành nào.

Trên mái tôn khung thép, điểm treo là vì kèo chính, bắt bằng kẹp ôm bản cánh dưới; không hàn, không khoan phá, không bao giờ vào xà gồ hay tôn mái. Cách bắt điểm treo cho mái tôn khung thép và sàn bê tông có ở bài thi công lắp đặt quạt trần; bài này không giảng lại.

Tải thiết kế điểm treo bằng khối lượng tịnh × 6 (hệ số an toàn 6, cao hơn mức tối thiểu ≥5 của ngành). Khối lượng tịnh chín model dòng DF, tính cho máy kèm ống treo 500 mm, từ 35 kg tới 110 kg, nên tải thiết kế từ 210 kg (DF-30) tới 660 kg (DF-73). Riêng DF-65, khối lượng 95 kg tạm lấy bằng DF-60, chưa được nhà máy xác nhận nên không coi là giá trị dự phòng. Ống treo dài hơn 500 mm, như các dòng có trần treo ở bảng trên, khung phụ và giằng chống lắc được cộng thêm sau khảo sát. Việc xử lý mái có thể làm vì kèo chịu thêm tải (tôn nhiều lớp, lớp cách nhiệt, khung trần treo), nên kỹ sư kết cấu công trình cần kiểm tải quạt cùng lúc với tải của phương án mái, không kiểm hai lần riêng rẽ. Bảng tải từng model có ở bảng tải điểm treo và trần tối thiểu.

Vì sao xử lý mái trước rồi mới tính số quạt: thứ tự sai thì tốn ở đâu

Đảo thứ tự “mái trước, quạt sau” thường tốn thêm tiền hoặc công, ở những chỗ cụ thể sau:

  1. Mua quạt để hạ nhiệt độ. Chủ xưởng lắp quạt với kỳ vọng nhiệt kế giảm, đo lại thấy nhiệt kế gần như đứng yên, kết luận quạt không hiệu quả. Quạt vẫn làm đúng việc của nó; kỳ vọng đặt sai chỗ. Ở dòng bức xạ của bảng phân việc, quạt không giúp được gì.
  2. Thêm quạt để bù cái nóng từ mái. Khi người đứng dưới mái vẫn thấy nóng trên đầu, phản ứng thường gặp là lắp thêm quạt. Bức xạ từ mặt dưới mái đi thẳng qua không khí, nên thêm quạt không chặn được nó; số quạt nên tính theo diện tích và vùng gió, không theo cảm giác nóng của một mái chưa xử lý.
  3. Làm trần cách nhiệt sau khi đã treo quạt. Trần mới hạ chiều cao thông thủy; quạt đã treo có thể phải hạ cánh, thay ống treo dài hơn, và như ví dụ đáy vì kèo 4,5 m ở bảng trên, có khi phải đổi sang cỡ nhỏ hơn hoặc chuyển khu đó sang quạt di động. Đó là một lần tháo lắp và có thể một lần mua lại.
  4. Phun cách nhiệt sau khi đã lắp kẹp điểm treo. Quạt, kẹp và cáp an toàn phải được che chắn hoặc tháo ra trong lúc thi công mái, rồi kiểm tra lại lực siết khi lắp lại.

Thứ tự ngược lại thì gọn: chốt phương án mái, có cao độ đáy vì kèo, cao độ mặt dưới trần (nếu có) và khối lượng phần mái thêm vào; sau đó mới chạy công cụ chọn quạt và bố trí điểm treo trên cùng bản vẽ. Nếu phần mái chưa chốt mà xưởng cần gió ngay cho mùa nóng, có hai cách không phải làm lại: dùng quạt di động YF cho các khu nóng nhất trong lúc chờ, hoặc thiết kế quạt trần theo phương án mái bất lợi nhất về chiều cao (có trần treo) để khi làm mái không phải đổi cỡ quạt.

“Mái trước” ở đây là ba nhóm làm thay đổi lớp vỏ: lớp phủ phản xạ, cách nhiệt sát mái và trần treo, vì chúng có thể đổi chiều cao treo, điểm treo và khoảng hở phía trên cánh. Thông gió mái và quạt hút không đổi chiều cao treo; thứ tự giữa thông gió và quạt trần theo bài nguyên lý: xưởng có nguồn nhiệt lớn, hơi hoặc khói thì làm thông gió trước, còn lại có thể chốt quạt trần cùng lúc.

Sau khi xử lý mái: tính số quạt trần và nghiệm thu bằng số đo

Khi mái đã chốt, cách tính quạt giống mọi nhà xưởng khác, nên bài này chỉ chỉ đường. Nhập dài, rộng và chiều cao (chiều cao tới đáy vì kèo; nếu có trần treo, nhập cao độ mặt dưới trần theo cách tính minh họa ở mục chiều cao treo, phương án thật chốt sau khảo sát) vào công cụ chọn quạt trần HVLS để có model, cao độ cánh và số quạt tham khảo; cách chọn đường kính theo mặt bằng có ở trang quạt trần công nghiệp và bài chọn quạt HVLS theo diện tích. Số quạt công cụ đưa ra là giá trị tham khảo kỹ thuật của MEILILE; số lượng thực tế do khảo sát hiện trường quyết định.

Quạt trần DF điều tốc vô cấp qua tủ biến tần, nên sau khi mái đã bớt nóng, người vận hành có thể chạy chậm hơn vào giờ mát và nhanh hơn vào giờ trưa thay vì chỉ bật và tắt. Ở các điểm nóng quanh lò, máy ép hoặc trạm hàn, quạt di động YF thổi trực diện vào vị trí đứng máy; YF có 10 cấp tốc độ cài sẵn.

Nghiệm thu đo hai nhóm số, và nên ghi cả số đo trước khi xử lý mái để so:

  • Phần mái (việc của đơn vị thi công mái và chủ đầu tư): theo khuyến nghị của MEILILE, ghi nhiệt độ mặt dưới mái hoặc mặt dưới trần ở cùng vài vị trí, cùng khung giờ nắng gắt, trước và sau khi xử lý, kèm nhiệt độ ngoài trời lúc đo. Đây là con số cho biết mái có làm đúng việc của nó không.
  • Phần quạt: tốc độ gió tại vị trí đứng làm việc; và chênh lệch nhiệt độ giữa tầng sát mái và tầng làm việc, đo trước khi bật và sau khi chạy 20–30 phút; cả hai theo bộ phép đo ở mục nghiệm thu bằng số đo của bài nguyên lý. Nhiệt kế đặt giữa xưởng không phải dụng cụ nghiệm thu quạt.

Với vi khí hậu tại nơi làm việc theo QCVN 26:2016/BYT (văn bản hiện hành tại ngày 09/10/2026), các giá trị cho phép và năm bước đưa xưởng về trong giới hạn có ở bài tiêu chuẩn nhiệt độ nhà xưởng; bài này không nhắc lại bảng giới hạn. Trong năm bước của bài đó, xử lý mái thuộc bước chọn biện pháp, ứng với dòng nhiệt độ và dòng chênh lệch trong nhà với ngoài trời; quạt ứng với dòng tốc độ gió.

Các trang giải pháp theo ngành đã nêu cùng một vấn đề mà chưa đi vào cách xử lý: khối khí nóng dồn dưới mái tôn ở xưởng cơ khí, luyện kim; mái tôn hấp nhiệt ở xưởng dệt may; trần cao, mái tôn tích nhiệt ở nhà máy điện tử. Thứ tự trong bài này áp cho cả ba: mái trước, đo lại chiều cao, rồi mới tính quạt theo đặc thù từng ngành ở trang tương ứng.

Câu hỏi thường gặp về chống nóng nhà xưởng mái tôn

Lắp quạt trần công nghiệp có làm mái tôn nhà xưởng bớt nóng không?

Không. Quạt trần không làm nguội mái tôn và không hạ nhiệt độ không khí trong xưởng. Nhiệt độ mái do nắng chiếu lên mặt ngoài và khả năng cản nhiệt của lớp vỏ quyết định; quạt không đổi lượng nắng mà mái hấp thụ và không thêm nhiệt trở cho lớp vỏ. Quạt tạo gió lên người để cơ thể thải nhiệt bằng bay hơi mồ hôi, và trộn lớp khí nóng tích dưới mái xuống tầng làm việc. Muốn giảm nhiệt từ mái xuống xưởng phải xử lý mái: lớp phủ phản xạ làm mặt tôn hấp thụ ít nắng hơn; lớp cách nhiệt và trần treo cách nhiệt chặn nhiệt đi xuống; mái thông gió đưa khí nóng ra ngoài.

Nhà xưởng có bắt buộc cách nhiệt mái theo QCVN 09:2017/BXD không?

Không, theo văn bản hiện hành tại ngày 09/10/2026. QCVN 09:2017/BXD yêu cầu mái bằng và mái dốc dưới 15° nằm ngay trên không gian có điều hòa đạt tổng nhiệt trở từ 1,00 m²·K/W, nhưng chỉ áp cho sáu loại công trình có tổng diện tích sàn từ 2.500 m² (văn phòng, khách sạn, bệnh viện, trường học, thương mại dịch vụ, chung cư); nhà xưởng không có trong danh sách. QCVN 04-3:2026/BXD thay thế từ 01/02/2027 giữ nguyên mức 1,00 m²·K/W và vẫn chỉ áp cho sáu loại công trình dân dụng từ 2.500 m², không có nhà xưởng. TCVN 9258:2012 về chống nóng chỉ dành cho nhà ở. Mức 1,00 m²·K/W dùng được làm mốc so sánh, không phải nghĩa vụ của nhà xưởng.

Làm trần cách nhiệt rồi có treo quạt trần lên trần đó được không?

Không. Trần treo cách nhiệt, tấm cách nhiệt hay lớp phun được thiết kế để giữ nhiệt, không phải để chịu tải treo. Với trần treo, khoét lỗ trên trần cho ống treo xuyên qua rồi bịt kín cổ lỗ; với lớp phun hay tấm cách nhiệt sát mái, chỗ kẹp trên vì kèo phải được chừa sạch. Trong cả hai trường hợp, điểm treo bắt vào vì kèo chính bằng kẹp ôm bản cánh dưới, không vào xà gồ hay tôn mái. Tải thiết kế điểm treo bằng khối lượng tịnh × 6, từ 210 kg (DF-30) tới 660 kg (DF-73) cho máy kèm ống treo 500 mm; ống treo dài hơn được cộng thêm sau khảo sát.

Sau khi làm trần cách nhiệt, quạt trần cần trần cao bao nhiêu?

Cánh phải nằm dưới mặt trần mới và phía trên cánh còn tối thiểu 0,6 m tới mặt dưới trần; điểm treo vẫn ở vì kèo, cỡ quạt và cao độ cánh do kỹ sư chốt sau khảo sát. Chiều cao tối thiểu để lắp vừa từ 3,4 m (DF-30) tới 6,0 m (DF-73), tính tới điểm treo hoặc mặt dưới trần; đó chỉ là điều kiện lắp vừa: ở chiều cao 3,4 m thì cánh DF-30 chỉ cách sàn khoảng 2,7 m, nên muốn cánh cách sàn 3,0 m ở khu có người đứng thì điểm treo (hoặc mặt dưới trần, nếu có trần treo) phải cao từ 3,7 m. Ví dụ minh họa với đáy vì kèo 4,5 m: không có trần thì lắp vừa DF-50, cánh cách sàn 3,8 m; trần ở 3,8 m thì còn DF-40, cánh 3,1 m; trần ở 3,6 m thì cánh chỉ còn khoảng 2,9 m, nên khu có người đứng chuyển sang quạt di động YF.

Nên xử lý mái hay lắp quạt trần trước?

Xử lý lớp vỏ mái trước (lớp phủ phản xạ, cách nhiệt sát mái, trần treo), đo lại chiều cao treo, rồi mới tính số quạt. Làm trần cách nhiệt sau khi đã treo quạt có thể buộc phải hạ cánh, thay ống treo hoặc đổi cỡ quạt; phun cách nhiệt sau khi đã lắp kẹp thì phải che chắn hoặc tháo quạt. Nếu mái chưa chốt mà cần gió ngay, dùng quạt di động YF cho khu nóng nhất, hoặc thiết kế quạt trần theo phương án mái bất lợi nhất về chiều cao. Thông gió mái và quạt hút không đổi chiều cao treo; xưởng có nguồn nhiệt lớn, hơi hoặc khói thì làm thông gió trước, còn lại có thể chốt cùng lúc với quạt trần.

MEILILE có bán vật liệu cách nhiệt hay nhận thi công chống nóng mái không?

Không. MEILILE không bán vật liệu cách nhiệt và không thi công mái. Phần của MEILILE là quạt trần HVLS dòng DF và quạt di động YF: khảo sát, bố trí, tính tải điểm treo, lắp đặt và nghiệm thu bằng số đo. Khi chủ đầu tư đã chọn đơn vị thi công mái, gửi MEILILE cao độ đáy vì kèo, cao độ mặt dưới trần (nếu có) và bản vẽ kết cấu để kỹ sư bố trí quạt và điểm treo trên cùng bản vẽ.

Bài viết liên quan: Nguyên lý làm mát của quạt trần HVLS · Tiêu chuẩn nhiệt độ nhà xưởng · So sánh giải pháp làm mát nhà xưởng · Quạt trần hay hệ thống thông gió · Các loại quạt công nghiệp · Thi công lắp đặt quạt trần công nghiệp · Cách lắp đặt quạt trần công nghiệp · Làm mát nhà máy thực phẩm

Phương án quạt trần cho nhà xưởng mái tôn tại MEILILE

MEILILE là hãng gốc, chủ thương hiệu quạt công nghiệp PMSM MEILILE; pháp nhân của hãng tại Việt Nam là CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN QUỐC TẾ MEILILE, trực tiếp báo giá, ký hợp đồng và bảo hành; văn phòng kỹ thuật tại TP. Hồ Chí Minh và Bắc Ninh. Với nhà xưởng mái tôn, kỹ sư bố trí quạt theo phương án mái đã chốt, không theo mái chưa xử lý; MEILILE không bán vật liệu cách nhiệt và không thi công mái.

  • Khảo sát hiện trường: đo chiều cao tới đáy vì kèo, cao độ mặt dưới trần nếu có, loại kết cấu mái, nguồn điện và các điểm nóng, ghi thành biên bản có ảnh.
  • Bản vẽ bố trí quạt kèm vị trí điểm treo và tải thiết kế bằng khối lượng tịnh × 6, để kỹ sư kết cấu kiểm cùng lúc với tải của phương án mái và để đơn vị thi công mái chừa sẵn vị trí treo.
  • Kỹ thuật viên MEILILE lắp đặt, đấu nối, nghiệm thu bằng số đo tốc độ gió và chênh lệch nhiệt độ theo tầng, xuất hóa đơn VAT đầy đủ.
  • Bảo hành trọn đời cả động cơ PMSM và biến tần, cam kết bằng hợp đồng.

Hotline/Zalo: +86 153 5630 9930 · Form nhận báo giá · Công cụ chọn quạt trần · Nguyên lý làm mát HVLS · Tiêu chuẩn nhiệt độ nhà xưởng · So sánh giải pháp làm mát · Thi công lắp đặt quạt trần
Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: chỉ nhận tin nhắn Zalo hoặc cuộc gọi quốc tế bằng tiếng Anh.
Gửi MEILILE kích thước dài, rộng, chiều cao tới đáy vì kèo, phương án mái dự kiến (có trần treo hay không, cao độ mặt dưới trần) và ảnh kết cấu mái; kỹ sư trả lời phương án sơ bộ (model, số lượng, cao độ cánh) và báo giá trong giờ làm việc; phương án treo chốt sau khảo sát kết cấu.

Nhận phương án bố trí quạt và báo giá trọn gói miễn phí trong ngày.