Tải điểm treo đã tính cho xưởng cũ không dùng lại được ở xưởng mới: quạt trần công nghiệp cũ tháo về phải khảo sát và tính lại điểm treo theo khối lượng tịnh × 6 như một lần lắp mới. Trước khi trả tiền, kiểm tại chỗ người bán năm việc: nhãn và mã số máy khớp hồ sơ gốc, tủ biến tần đúng bộ của chính quạt đó, cánh và kẹp cánh không lõm, chạy thử đủ dải tốc độ, chốt khóa và cáp an toàn còn đủ.
Một lô quạt trần công nghiệp HVLS thanh lý nhìn từ dưới sàn thường giống hệt quạt đang chạy tốt: cánh dài, thân động cơ sạch, người bán bật lên vẫn quay. Những thứ quyết định chiếc quạt đó lắp lại được hay không lại nằm ở chỗ người mua không nhìn thấy ngay: tủ biến tần có đúng bộ không, hồ sơ gốc còn không, cáp an toàn đã gỉ chưa, và quan trọng hơn cả là xưởng mới có treo được model đó không. Bài này đi theo đúng thứ tự công việc khi đi xem quạt cũ, mỗi bước có tiêu chí đạt và cách xử lý khi không đạt.
Quạt trần công nghiệp cũ thanh lý: mua được, nhưng phải tự kiểm những gì người bán không nói
Một lô quạt trần công nghiệp HVLS cũ có thể đến từ nhà xưởng hết hạn thuê và trả mặt bằng, từ doanh nghiệp thanh lý tài sản khi đổi dây chuyền hoặc thu hẹp sản xuất, hoặc từ đơn vị trung gian gom thiết bị từ nhiều nơi về bán lại. Dù từ nguồn nào, người bán biết chiếc quạt đã chạy ra sao rõ hơn người mua, nên người mua cần hỏi thẳng những chỗ có thể làm tốn thêm tiền sau này: tủ điều khiển còn đúng bộ hay đã bị thay, hồ sơ bàn giao còn hay đã thất lạc, cáp an toàn đã được thay lần nào chưa, và trong năm cuối quạt đã báo những lỗi gì.
Quạt trần HVLS là thiết bị treo trên cao, nặng từ vài chục đến hơn một trăm ki-lô-gam, quay một bộ cánh đường kính 3,0–7,3 m trên đầu người làm việc. Vì vậy câu hỏi khi mua quạt cũ là “quạt này có lắp lại an toàn ở xưởng của tôi không, và phải bỏ thêm những gì để làm được việc đó”. Một chiếc quạt rẻ nhưng thiếu tủ biến tần, mất hồ sơ và không hợp trần xưởng mới có thể tốn nhiều hơn số tiền tiết kiệm được.
Bài này viết cho người được giao đi xem một lô quạt trần cũ: chủ xưởng, bộ phận mua hàng hoặc tổ cơ điện. Thứ tự các phần bên dưới là thứ tự nên làm tại chỗ: kiểm giấy tờ và nhãn máy trước, rồi tủ điều khiển, bộ cánh, chạy thử, đồ treo, và cuối cùng là tính lại cho xưởng mới. Bước trước chưa đạt thì chưa cần sang bước sau, vì một quạt không chứng minh được nguồn gốc hoặc không treo được ở xưởng mới thì các bước kiểm còn lại không còn ý nghĩa với người mua.
MEILILE là hãng gốc, chủ thương hiệu của dòng quạt trần DF. Các tiêu chí trong bài lấy từ hướng dẫn sử dụng, lịch bảo trì và biên bản nghiệm thu của dòng DF, nên áp dụng trực tiếp khi chiếc quạt cũ là quạt MEILILE. Với quạt của hãng khác, phần lớn tiêu chí vẫn dùng được như một khung kiểm tra, nhưng các con số cụ thể như khối lượng tịnh, trần tối thiểu hay dòng điện đầy tải phải lấy từ tài liệu của chính hãng đó, không lấy số của dòng DF để suy ra.

Bảng dưới gom mười hạng mục thành một tờ kiểm tra mang theo khi đi xem quạt. Cột “Không đạt thì” ghi việc phải làm tiếp: nhiều hạng mục chỉ làm tăng chi phí lắp lại, và người mua cần biết khoản đó trước khi chốt giá.
| Hạng mục | Kiểm thế nào | Đạt khi | Không đạt thì | Đọc thêm |
|---|---|---|---|---|
| 1. Nhãn động cơ và mã số máy | Chụp nhãn, đối chiếu hồ sơ gốc | Model, công suất kW, điện áp và mã số máy khớp nhau, khớp hồ sơ | Không chứng minh được nguồn gốc, không tra được hồ sơ theo mã máy | Phần nhãn máy |
| 2. Kiểu truyền động | Hỏi lịch bảo trì có hạng mục thay dầu không; nhìn vết dầu dưới thân | Xác định được kiểu truyền động | Nếu là kết cấu qua hộp số: lịch bảo trì có thêm thay dầu, kiểm bánh răng | Cấu tạo, cụm 2 |
| 3. Tủ biến tần | Đối chiếu tủ với quạt, tài liệu vận hành, sơ đồ đấu điện | Tủ đi cùng chính quạt đó, còn tài liệu | Chưa chạy thử được đúng cách; phải tính thêm kỹ thuật viên kiểm tra, cài đặt | Biến tần đi kèm |
| 4. Điều tốc | Hạ dần từ tốc độ cao xuống tốc độ thấp, xem ampe kìm | Dòng điện giảm theo tốc độ | Nghi mạch chỉnh tốc hạ áp, xem lại toàn bộ bộ điều khiển | PMSM và động cơ cảm ứng |
| 5. Cánh, mâm cánh, kẹp cánh | Nhìn từng cánh, đếm bu-lông và vòng đệm | Không lõm, không cong, không xước sâu mép trước; đủ bu-lông | Thay chi tiết hỏng, không nắn lại để dùng tiếp | Cấu tạo, cụm 3 |
| 6. Chạy thử toàn dải | Nghe, xem rung, đọc mã lỗi lưu trên màn hình biến tần | Không tiếng cọ kim loại, không cộng hưởng, không mã lỗi lặp lại | Dừng, tìm nguyên nhân trước khi chốt giá | Dấu hiệu phải dừng quạt |
| 7. Chốt khóa kép, cáp an toàn | Đếm chốt, soi từng đoạn cáp | Đủ chốt; cáp không đứt sợi, không gỉ, không biến dạng | Cáp có sợi đứt thì thay mới; thiếu chốt thì bổ sung đúng chủng loại | Bốn lớp chống rơi |
| 8. Sổ bảo trì ba mốc | Xin sổ hoặc phiếu bảo trì | Có ghi các mốc hằng tháng, 6 tháng, 12 tháng | Coi lần lắp lại là một kỳ kiểm tra 12 tháng đầy đủ | Lịch bảo trì |
| 9. Điểm treo ở xưởng mới | Khối lượng tịnh × 6, so trần tối thiểu của model | Kết cấu chịu đủ tải, trần đạt | Lùi model, gia cường, hoặc chuyển vùng đó sang quạt di động | Quy tắc điểm treo |
| 10. Nguồn gốc nhập khẩu | So năm sản xuất với năm nhập khẩu | Không quá 10 năm (khi nhập khẩu máy đã qua sử dụng) | Không đủ điều kiện nhập khẩu theo QĐ 18/2019/QĐ-TTg | Phần nhập khẩu |
Hạng mục 9 và 10 không kiểm trên chiếc quạt mà kiểm trên giấy tờ và trên công trình của người mua. Chúng vẫn nằm trong cùng bảng vì sai ở hai mục này thì thương vụ có thể đổ vỡ sau khi đã trả tiền: quạt về tới nơi mới phát hiện trần không đủ hoặc dầm không chịu được tải.
Nhãn máy, mã số máy và model: ba thứ phải khớp nhau và khớp hồ sơ gốc
Việc đầu tiên khi đứng trước một chiếc quạt cũ là đọc nhãn động cơ. Nhãn của dòng DF ghi model, công suất kW, điện áp và tần số; nhãn động cơ nói chung phải có thêm dòng điện đầy tải và kiểu động cơ. Ba thông tin model, công suất, điện áp phải khớp với nhau và khớp với tài liệu người bán đưa ra. Với dòng DF, mỗi model ứng với một đường kính cánh: DF-73 là 7,3 m, DF-60 là 6,0 m, DF-30 là 3,0 m, nên đo sơ chiều dài một cánh cũng là một cách đối chiếu model ghi trên nhãn với bộ cánh đang lắp.

Điện áp là chỗ hay bị bỏ qua. Theo bảng thông số dòng DF, DF-73 và DF-65 chạy 380V; DF-60 và DF-55 có bản 380V hoặc 220V; DF-50 trở xuống chạy 220V. Một quạt DF-60 bản 220V mang về một xưởng chỉ kéo sẵn nguồn 380V tới vị trí treo thì phải làm lại phần cấp điện; lắp nhầm điện áp là lỗi đắt tiền, và sử dụng sai điện áp nằm ngoài phạm vi bảo hành của MEILILE.
Mã số máy quan trọng hơn hóa đơn. Hồ sơ bảo hành và hồ sơ bàn giao của quạt MEILILE được lưu theo mã số máy, và khi bàn giao một quạt mới, MEILILE giao phiếu kích hoạt bảo hành theo số máy để mỗi quạt có hồ sơ riêng. Với người mua quạt cũ, mã số máy là thứ nối chiếc quạt đang đứng trước mặt với hồ sơ đó; các kỳ bảo trì và các lần sửa thì xem trong sổ bảo trì người bán giữ. Nhãn bị bóc, bị sơn đè hoặc mã số không đọc được là một rủi ro phải ghi vào giá, không phải chi tiết bỏ qua.
Hồ sơ gốc nên xin cùng lúc với việc đọc nhãn. Khi nghiệm thu một quạt trần mới, dịch vụ thi công lắp đặt quạt trần công nghiệp của MEILILE bàn giao tám loại giấy tờ, từ biên bản nghiệm thu, biên bản lực siết, phiếu đo dòng điện và điện áp từng pha, bản vẽ hoàn công, tài liệu vận hành tủ biến tần kèm bảng mã lỗi, phiếu kích hoạt bảo hành theo số máy, tới lịch bảo trì. Người mua quạt cũ không cần đủ cả tám, nhưng bốn thứ sau đáng để hỏi bằng được:
- Phiếu kích hoạt bảo hành hoặc giấy tờ ghi mã số máy: để tra hồ sơ theo máy.
- Tài liệu vận hành tủ biến tần và bảng mã lỗi: để đọc được nhật ký lỗi khi chạy thử.
- Sổ hoặc phiếu bảo trì: để biết các mốc bảo trì đã làm và chưa làm.
- Phiếu đo và biên bản nghiệm thu: dòng điện, điện áp từng pha trong phiếu đo và mục rung động trong biên bản nghiệm thu, ghi lúc quạt còn mới, là giá trị nền để so với số đo khi chạy thử hôm nay.
Bản vẽ hoàn công của xưởng cũ ít giá trị cho việc lắp lại, vì cao độ treo và tuyến điện sẽ phải làm lại theo xưởng mới. Nhưng bản vẽ đó cho biết cáp an toàn đã được neo vào đâu và tủ biến tần đặt ở đâu, nên vẫn có ích khi tháo.
Khi người bán là trung gian và không có hồ sơ, cách làm hợp lý là ghi rõ trong biên bản mua bán những gì đã nhận và những gì không có, chụp nhãn từng quạt kèm mã số, và tính trước chi phí kiểm tra lại toàn bộ như với một thiết bị không rõ lịch sử.
Truyền động trực tiếp hay qua đai, hộp số: nhận ra từ dưới sàn trước khi leo lên
Quạt trần HVLS trên thị trường đồ cũ có hai kiểu truyền động: động cơ PMSM nối thẳng mâm cánh như dòng DF, và động cơ cảm ứng hạ tốc qua đai hoặc hộp giảm tốc. Hai kiểu khác nhau ở khối lượng bảo trì sau này, nên người mua cần biết mình đang xem kiểu nào. Có hai cách nhận ra mà không cần leo lên. Cách đầu là hỏi: “Lịch bảo trì của quạt này có hạng mục thay dầu không?”. Có thì đó là kết cấu qua hộp số; kết cấu truyền động trực tiếp không dùng dầu bôi trơn. Cách thứ hai là đọc tốc độ trên nhãn: động cơ cảm ứng thường ghi quanh 1.400 hoặc 2.800 vòng/phút ở 50 Hz, trong khi DF-73 chỉ quay 57 vòng/phút.

Bốn phép thử đo tại chỗ bằng ampe kìm, đồng hồ vạn năng và súng đo nhiệt, cách nhận ra “biến tần giả” và ba dạng hỏng của hệ đai, hộp giảm tốc đã có trong bài PMSM và động cơ cảm ứng; phần khác biệt giữa hai kết cấu nằm ở cụm 2 trong bài cấu tạo quạt trần HVLS. Bài này không nhắc lại, chỉ lấy một phép thử đưa vào bước chạy thử ở phần dưới.
Tủ biến tần có đi kèm không, có đúng bộ của chính quạt đó không
Đây là hạng mục riêng của quạt PMSM mà người mua quen với quạt động cơ cảm ứng hay bỏ qua. Động cơ PMSM của quạt trần không nối thẳng vào điện lưới; nó chạy qua một tủ biến tần cấp nguồn ba pha có tần số đặt được, và đổi tần số là đổi tốc độ quạt, nên quạt DF điều tốc vô cấp qua biến tần. Theo danh mục linh kiện trong hướng dẫn sử dụng quạt trần công nghiệp MEILILE, mỗi quạt trần có 1 bộ điều khiển động cơ và 1 bộ cáp điện, xếp cùng danh mục với 6 cánh quạt và cáp thép. Nói cách khác, với quạt DF, tủ biến tần là một phần của bộ quạt, không phải món mua rời.
Tủ không chỉ là phần cứng. Các tham số cài sẵn của tủ đi kèm quạt DF đã được hiệu chỉnh trước khi xuất xưởng cho đúng động cơ đó, và khi thật sự cần thay đổi tham số thì phải do kỹ thuật viên của MEILILE hoặc đơn vị được MEILILE ủy quyền thực hiện. Từ đó suy ra ba tình huống người mua quạt cũ hay gặp:
- Thân quạt bán riêng, không có tủ. Không chạy thử được đúng cách tại chỗ người bán, và sau khi mua phải tính thêm phần tủ cùng công kỹ thuật viên kiểm tra, cài đặt cho đúng động cơ.
- Tủ có, nhưng không chứng minh được là tủ của quạt này. Ví dụ một lô năm quạt mà các tủ đã tháo ra để chung một chỗ. Đối chiếu bằng bản vẽ hoàn công (ghi vị trí tủ và tuyến điện của từng quạt) và tài liệu bàn giao; không đối chiếu được thì coi như chưa rõ đúng bộ.
- Tủ đúng bộ, nhưng ai đó đã dùng chức năng “khôi phục cài đặt xuất xưởng”. Giá trị mặc định của biến tần và bộ tham số đã hiệu chỉnh cho quạt DF không chắc giống nhau, nên dùng chức năng khôi phục cũng là thay đổi tham số. Hỏi thẳng người bán tủ đã từng được cài lại chưa, ai làm.

Khi kiểm tủ tại chỗ, ngoài việc đối chiếu, nên xem ba thứ: màn hình còn hiển thị bình thường, khe tản nhiệt không bị bụi bít kín (đây là hạng mục vệ sinh trong kỳ bảo trì 6 tháng), và bộ cáp nối tủ với quạt còn nguyên, không bị cắt ngắn khi tháo. Nếu cáp đã bị cắt để tháo nhanh, cáp mới phải đúng chủng loại, đúng sơ đồ đấu.
Một chiếc tủ đã bị người không có chuyên môn mở ra sửa là thông tin người mua cần biết trước. Cách tủ được đấu nối, ý nghĩa các phím, cách đọc mã lỗi theo thứ tự nguồn điện, cơ khí, tản nhiệt, tủ điều khiển có ở bài biến tần quạt trần công nghiệp.
Bộ cánh, mâm cánh và kẹp cánh sau khi tháo: kiểm vết lõm, cong vênh, thiếu bu-lông
Ngoài lúc vận hành, bộ cánh còn dễ bị va chạm trong lúc tháo, vận chuyển và cất giữ. Dòng DF dùng 6 cánh hợp kim nhôm, profile khí động học, có winglet ở đầu cánh; nhôm được chọn vì nhẹ, cứng và ổn định trong không khí nhà xưởng, nhưng một cánh nhôm dài vài mét bị kê lệch, bị chồng vật nặng lên hoặc bị va vào cột trong lúc hạ xuống thì lõm hoặc cong mà không ai để ý.

Tiêu chí nghiệm thu bộ cánh của quạt mới áp dụng được nguyên cho quạt cũ: bề mặt cánh không lõm, không xước sâu ở mép trước; bu-lông kẹp cánh đủ số, không con nào bỏ vòng đệm; số cánh và chiều dài cánh đúng model. Với quạt cũ, thêm bốn việc:
- Đặt từng cánh lên mặt phẳng hoặc ngắm dọc sống cánh để thấy cánh có bị cong theo chiều dài không. Cánh cong làm lệch cân bằng cả bộ.
- Xem đầu cánh và winglet: đây là chỗ hay va chạm khi hạ cánh xuống.
- Xem lỗ bắt bu-lông trên cánh và trên kẹp cánh: lỗ bị méo (ô-van), ren bị hỏng là dấu hiệu đã từng siết lệch hoặc đã từng lỏng.
- Đếm bu-lông theo số đã ghi ở biên bản lực siết nếu người bán còn giữ biên bản đó. Bu-lông thất lạc khi tháo phải thay đúng cấp bền, không lấy bu-lông bất kỳ.
Nếu quạt còn treo khi đi xem, có thêm một dấu hiệu để đọc: các bu-lông của quạt DF được kẻ vạch sơn chống nới lỏng sau khi siết bằng cờ lê lực, nên vạch sơn bị lệch giữa đầu bu-lông và đai ốc nghĩa là bu-lông đó đã xoay. Vì lý do này, nên xem quạt khi còn treo và chạy thử trước khi người bán tháo xuống, thay vì xem một đống cánh đã tháo rời.
Chi tiết nào cong vênh, nứt hoặc hỏng ren thì thay mới, không nắn lại để dùng tiếp. Cánh nắn lại vẫn lắp được và vẫn quay, nhưng lệch cân bằng là dạng hỏng phổ biến của bộ cánh, biểu hiện bằng rung tăng theo tốc độ và mạnh lên ở một dải tốc độ, và lực rung đó dồn vào toàn bộ chuỗi treo. Cách bộ cánh và mâm cánh làm việc, và dấu hiệu khi hỏng, có ở cụm 3 trong bài cấu tạo quạt trần HVLS.
Với quạt đã tháo và nằm kho một thời gian, hỏi thêm cách cất giữ: cánh có được kê trên giá phẳng không, động cơ và đầu nối điện có được che kín không. Đầu nối và hộp đấu dây để hở trong kho ẩm là chỗ cần kỹ thuật viên kiểm tra cách điện trước khi cấp điện lại; việc đo điện trở cách điện động cơ vốn nằm trong kỳ bảo trì 12 tháng của dòng DF.
Chạy thử tại chỗ người bán: chạy đủ dải tốc độ, nghe gì, ghi lại gì
Chạy thử là bước nhiều người làm nhưng ít người ghi lại. Mục tiêu của bước này không phải là thấy quạt quay, mà là có một bộ số liệu và một đoạn video để so sau khi lắp lại ở xưởng mới. Nếu quạt đã tháo, không có tủ đúng bộ hoặc không có nguồn phù hợp tại chỗ, bước này không làm được; khi đó ghi rõ “chưa chạy thử” vào biên bản mua bán và tính rủi ro đó vào giá.

Trình tự đề xuất, dựa trên hạng mục chạy thử trong biên bản nghiệm thu và lịch bảo trì của dòng DF:
- Đọc màn hình biến tần trước khi bật. Biến tần lưu lại mã lỗi; một tủ có nhiều mã lỗi lưu là dấu hiệu quạt từng có vấn đề mà người bán có thể không kể, đặc biệt khi cùng một mã lặp lại nhiều lần. Chụp lại màn hình.
- Chạy quét toàn dải tốc độ, dừng lại ở các mức trung gian, quan sát quạt và khung treo. Không được rung lắc bất thường, không cộng hưởng ở mức tốc độ nào, biến tần không báo lỗi rung. Quay video từ dưới sàn ở từng mức.
- Nghe và nhìn các dấu hiệu phải dừng: lắc ngang tăng dần, tiếng cọ kim loại theo nhịp quay, tiếng gõ nhịp theo vòng quay, mái rung theo nhịp quạt. Gặp một trong các dấu hiệu này thì dừng máy, không chạy tiếp để “xem thêm”.
- Hạ tốc độ và xem dòng điện. Kẹp ampe kìm, hạ dần từ tốc độ cao xuống tốc độ thấp: với biến tần thật, tốc độ giảm thì dòng điện giảm theo rõ rệt. Ở tốc độ tối đa, các model DF chạy 380V (DF-73, DF-65 và bản 380V của DF-60, DF-55) có dòng công bố trong dải 2,9–3,3 A; model chạy 220V thì đối chiếu với dòng ghi trên nhãn và bảng thông số của đúng model đó. Lệch nhiều so với bảng thông số là dấu hiệu đấu sai, cánh bị cản hoặc động cơ không đúng như mô tả.
- Lập phiếu chạy thử: ghi dòng điện từng pha, điện áp, mã lỗi đã đọc, mức nào rung, ngày giờ và người chứng kiến; hai bên cùng ký. Phiếu này là giá trị nền khi so với số đo lúc nghiệm thu ở xưởng mới.
Cách đọc mã lỗi theo nhóm và thứ tự kiểm tra nằm ở phần báo lỗi của bài biến tần. Nguyên tắc cần nhớ khi chạy thử quạt cũ: nhiều mã lỗi có nguyên nhân nằm ngoài tủ điện, như cánh bị cản, ổ trục (bạc đạn) nặng hoặc nguồn điện sụt áp, nên không kết luận “tủ hỏng” hay “tủ tốt” chỉ từ một lần bật. Các dấu hiệu phải dừng quạt sau vài năm sử dụng được viết đầy đủ ở bài quạt trần công nghiệp có bị rơi không.
Phép đo nhiệt độ vỏ động cơ sau một giờ chạy liên tục cũng hữu ích, nhưng chỉ có giá trị khi so với số đo trước đó của chính quạt đó. Nếu người bán còn giữ phiếu đo của các kỳ bảo trì, so con số hôm nay với các lần trước; vỏ nóng dần qua các lần đo trong khi tốc độ và tải không đổi là dấu hiệu cách điện đang xuống cấp.
Khung gá, chốt khóa, cáp an toàn và hồ sơ gốc: cái gì phải còn đủ, cái gì phải thay mới
Hệ chống rơi của quạt trần DF gồm bốn lớp: khung gá kết cấu, chốt khóa cơ khí kép giữa trục động cơ và mâm cánh, cáp an toàn dự phòng nối thân quạt lên kết cấu mái, và bảo vệ điện của biến tần. Khi mua quạt cũ, mỗi lớp được xem theo một cách khác nhau, vì có lớp đi theo quạt và có lớp thuộc về công trình.

- Chốt khóa cơ khí kép đi theo quạt và phải còn đủ. Đếm và kiểm trực tiếp từng chốt: đủ số lượng, đúng chiều, đã khóa chống xoay. Chốt này giữ mâm cánh trên trục động cơ kể cả khi bu-lông chính bị lỏng, nên thiếu chốt không phải chi tiết nhỏ. Thiếu thì bổ sung đúng chủng loại trước khi treo lại.
- Cáp an toàn đi theo quạt nhưng phải soi lại từng đoạn. Cáp có sợi thép đứt, gỉ sét hoặc biến dạng thì thay mới, không sửa. Cáp từng bị cắt để tháo nhanh cũng phải thay.
- Khung gá và ống treo phụ thuộc công trình mới. Khung gá cho mái tôn khung thép kẹp ôm thanh cánh dưới của vì kèo; với dầm bê tông, cách bắt điểm treo khác hẳn. Chiều dài ống treo cũng tính theo chiều cao trần mới. Vì vậy khung gá và ống treo của xưởng cũ có thể dùng lại hoặc phải làm mới, tùy kết cấu ở xưởng mới; câu trả lời có sau buổi khảo sát, không có tại chỗ người bán.
- Bảo vệ điện của biến tần đi theo tủ. Hỏi người bán ngưỡng bảo vệ có từng bị nới để quạt chạy cho xong hay không; nếu có, tủ cần kỹ thuật viên kiểm tra lại.
Cáp an toàn ở xưởng mới phải neo vào kết cấu chịu lực của mái, tức vì kèo chính hoặc dầm bê tông, không neo vào chính khung gá và không neo vào xà gồ hay tôn. Đây là điều kiện của công trình mới, nên dù cáp cũ còn tốt, vị trí neo vẫn phải xác định lại trên bản vẽ mới. Bốn lớp, điều kiện mất hiệu lực của từng lớp và hạng mục nghiệm thu tương ứng có ở bài quạt trần công nghiệp có bị rơi không.
Về sổ bảo trì: lịch bảo trì của dòng DF có ba mốc. Hằng tháng, đội bảo trì nhà máy nhìn, nghe khi quạt chạy đủ dải và đọc mã lỗi lưu, khoảng 10–15 phút mỗi quạt. Mỗi 6 tháng, vệ sinh cánh, kiểm tra bằng mắt hệ treo và cáp an toàn, vệ sinh khe tản nhiệt tủ biến tần, 1–2 giờ mỗi quạt. Mỗi 12 tháng, kỹ thuật viên có chứng chỉ làm việc trên cao kiểm tra lực siết toàn bộ bu-lông, cáp và chốt khóa, cân bằng cánh, điện trở cách điện và thông số biến tần, 2–3 giờ mỗi quạt. Đặt sổ của người bán cạnh ba mốc này để thấy mốc nào đã làm, mốc nào bỏ trống. Sổ thiếu nhiều mốc không có nghĩa quạt hỏng, nhưng có nghĩa lần lắp lại phải làm như một kỳ kiểm tra 12 tháng đầy đủ. Danh mục từng mốc ở bài bảo trì bảo dưỡng quạt trần công nghiệp.
Bảo hành của một chiếc quạt MEILILE khi được bán lại, khi nhà xưởng đổi chủ hoặc khi tháo đi lắp lại nơi khác, kể cả ai được tháo và lắp lại, được trả lời riêng ở mục bảo hành trọn đời khi quạt được bán lại, đổi chủ hoặc chuyển xưởng; bài này không nhắc lại các điều kiện đó.
Tháo xuống, lắp lại ở xưởng mới: tính lại điểm treo theo khối lượng tịnh × 6 và trần tối thiểu mới
Đây là phần quyết định thương vụ, và là phần người mua hay làm sau cùng. Tải điểm treo đã được kết cấu của xưởng cũ duyệt không chuyển sang xưởng mới cùng chiếc quạt. Ở xưởng mới, điểm treo phải được khảo sát lại như một lần lắp mới: loại kết cấu, quy cách tiết diện dầm hoặc vì kèo, chiều cao thông thủy tại vị trí treo, nguồn điện tới vị trí đó.
MEILILE tính điểm treo theo tải thiết kế bằng khối lượng tịnh × 6, đã gồm dự phòng cho tải động lúc khởi động và lúc đảo chiều. Bảng dưới là con số của chín model DF, dùng để đối chiếu nhanh trước khi trả tiền: biết model của quạt cũ, biết kết cấu ở xưởng mới chịu được bao nhiêu mỗi điểm và trần cao bao nhiêu, là biết quạt đó có treo được hay không.
| Model | Đường kính | Công suất | Khối lượng tịnh | Tải thiết kế điểm treo | Trần tối thiểu | Điện áp |
|---|---|---|---|---|---|---|
| DF-73 | 7,3 m | 1,6 kW | 110 kg | ≥660 kg | 6,0 m | 380V |
| DF-65 | 6,5 m | 1,5 kW | 95 kg (tạm) | ≥570 kg (tạm) | 5,5 m | 380V |
| DF-60 | 6,0 m | 1,3 kW | 95 kg | ≥570 kg | 5,0 m | 380V hoặc 220V |
| DF-55 | 5,5 m | 1,3 kW | 90 kg | ≥540 kg | 5,0 m | 380V hoặc 220V |
| DF-50 | 5,0 m | 0,75 kW | 70 kg | ≥420 kg | 4,2 m | 220V |
| DF-45 | 4,5 m | 0,5 kW | 60 kg | ≥360 kg | 4,0 m | 220V |
| DF-40 | 4,0 m | 0,5 kW | 47 kg | ≥282 kg | 5,0 m | 220V |
| DF-35 | 3,5 m | 0,5 kW | 40 kg | ≥240 kg | 4,5 m | 220V |
| DF-30 | 3,0 m | 0,5 kW | 35 kg | ≥210 kg | 4,0 m | 220V |
DF-65 chưa có số công bố riêng trong bảng thông số nhà máy nên đang tạm lấy bằng DF-60 (95 kg), chưa được nhà máy xác nhận; hồ sơ kết cấu cần con số chính thức thì MEILILE xin từ nhà máy trước khi ký hợp đồng.
Trần tối thiểu là chiều cao thông thủy cần có tại điểm treo, không phải độ cao cánh cách sàn; hai con số này phải đo và ghi riêng. Bốn con số hình học đội lắp đặt MEILILE dùng: từ điểm treo kết cấu xuống mặt phẳng cánh khoảng 0,4 m (phần cố định, chưa tính ống treo), ống treo tối thiểu 0,3 m, phía trên cánh chừa tối thiểu 0,6 m làm khoảng hút gió, và cánh cách sàn từ 3,0 m. Một chiếc quạt từng treo ở xưởng trần 8 m với ống treo dài sẽ không giữ nguyên ống treo đó ở xưởng trần 6 m.

Hai ví dụ cho thấy bảng được dùng thế nào. Ví dụ đầu tiên: một lô quạt DF-60 thanh lý, xưởng mới có trần 4,8 m. Trần tối thiểu của DF-60 là 5,0 m, nên dù giá tốt, DF-60 không treo được ở xưởng đó; nếu vẫn cần quạt trần, model phù hợp phải là model có trần tối thiểu từ 4,8 m trở xuống, như DF-50 (4,2 m) hoặc DF-45 (4,0 m), và đó là model khác với lô đang bán. Ví dụ thứ hai: kết cấu ở xưởng mới chỉ chịu 300 kg mỗi điểm. Con số này đủ cho DF-40 (≥282 kg) trở xuống và không đủ cho DF-45 (≥360 kg) trở lên, nên một lô DF-73 thanh lý dù rẻ cũng không treo được nếu không gia cường hoặc thêm khung phụ chia tải; không “treo thử xem”. Kết luận đủ hay phải gia cường là của kỹ sư kết cấu công trình, MEILILE cung cấp khối lượng tịnh và tải thiết kế từng model.
Ngoài điểm treo, ba việc khác cũng làm lại ở xưởng mới: tuyến điện và vị trí tủ theo điện áp của model, vị trí neo cáp an toàn trên kết cấu mái, và nghiệm thu đủ hạng mục như quạt mới. Tám hạng mục phải chốt khi khảo sát có ở phần khảo sát trước thi công; quy tắc điểm treo, hai loại kết cấu và các bước lắp có ở bài cách lắp đặt quạt trần công nghiệp. Nếu chưa chắc model nào hợp với điều kiện của xưởng mới, bài mua quạt trần HVLS loại nào tốt xếp chín model theo điều kiện lắp đặt, và công cụ chọn quạt trần HVLS cho ra model và số lượng theo kích thước từng vùng.
Xưởng mới là xưởng đi thuê ngắn hạn thì cân nhắc kỹ trước khi mua: mỗi lần chuyển đều tốn công tháo và vá điểm treo, như bài thẩm duyệt PCCC khi lắp quạt trần đã lưu ý; với trường hợp này, nên đặt quạt di động YF cạnh phương án quạt trần để so.
Quạt nhập khẩu đã qua sử dụng: điều kiện tuổi thiết bị theo QĐ 18/2019/QĐ-TTg
Phần này chỉ áp dụng khi doanh nghiệp tự nhập khẩu quạt trần đã qua sử dụng từ nước ngoài về Việt Nam. Quyết định dưới đây điều chỉnh việc nhập khẩu; mua bán quạt cũ giữa hai doanh nghiệp trong nước không thuộc phạm vi điều chỉnh của nó.
Việc nhập khẩu máy móc, thiết bị đã qua sử dụng được quy định tại Quyết định 18/2019/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Theo văn bản hợp nhất đăng trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ, quyết định này có hiệu lực từ 15/6/2019 và đã được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định 02/2026/QĐ-TTg ngày 08/01/2026, phần sửa đổi có hiệu lực từ cùng ngày. Những điểm liên quan trực tiếp tới quạt trần:
- Phạm vi: áp dụng cho máy móc, thiết bị đã qua sử dụng thuộc chương 84 và 85 của danh mục hàng hóa xuất nhập khẩu, nhập khẩu để sử dụng cho hoạt động sản xuất tại Việt Nam. Quạt công nghiệp thuộc nhóm 8414, nằm trong chương 84.
- Tuổi thiết bị: không vượt quá 10 năm (Điều 6 khoản 1); một số lĩnh vực cụ thể có mức tuổi riêng tại Phụ lục I của quyết định.
- Cách tính tuổi: tính theo năm, từ năm sản xuất tới năm nhập khẩu; năm nhập khẩu là năm hàng về tới cửa khẩu Việt Nam (Điều 3).
- Tiêu chuẩn: thiết bị phải đáp ứng yêu cầu về an toàn, tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia; chưa có quy chuẩn tương ứng thì theo tiêu chuẩn quốc gia của Việt Nam hoặc tiêu chuẩn quốc gia của các nước G7, Hàn Quốc (Điều 6 khoản 2).

Với người mua, điều kiện tuổi thiết bị dẫn tới một việc cụ thể: năm sản xuất phải chứng minh được bằng giấy tờ (Điều 8 khoản 1: giấy xác nhận của nhà sản xuất về năm sản xuất, hoặc chứng thư giám định, tùy nước sản xuất), và nhãn máy phải còn đọc được. Đây là thêm một lý do để hạng mục nhãn và mã số máy ở phần đầu được kiểm trước tiên. Thông tin ở đây là tham khảo kỹ thuật để người mua biết điều kiện nào cần hỏi, không phải ý kiến pháp lý; hồ sơ nhập khẩu cụ thể cần làm với đơn vị khai báo hải quan và cơ quan hải quan.
Về kế toán, quạt mua cũ được ghi nhận và trích khấu hao theo cách riêng: thời gian trích của tài sản đã qua sử dụng được tính từ giá trị hợp lý so với giá tài sản cùng loại mới, theo Điều 10 Thông tư 45/2013/TT-BTC. Cách tính và các khung thời gian có ở phần khấu hao quạt trần công nghiệp.
Câu hỏi thường gặp khi mua quạt trần công nghiệp cũ thanh lý
Mua quạt trần công nghiệp cũ thanh lý cần kiểm tra những gì trước khi trả tiền?
Kiểm theo thứ tự năm việc tại chỗ người bán: nhãn động cơ và mã số máy khớp nhau và khớp hồ sơ gốc; tủ biến tần đúng bộ của chính quạt đó; cánh, mâm cánh và kẹp cánh không lõm, không cong, đủ bu-lông; chạy thử đủ dải tốc độ, đọc mã lỗi lưu và ghi phiếu chạy thử; chốt khóa cơ khí kép đủ và cáp an toàn không đứt sợi, không gỉ. Song song, đối chiếu model với trần tối thiểu và tải điểm treo ở xưởng mới, vì quạt không treo được ở xưởng mới thì các bước kiểm còn lại không còn ý nghĩa.
Quạt trần HVLS cũ không còn tủ biến tần đi kèm thì có dùng được không?
Động cơ PMSM của quạt trần không nối thẳng vào điện lưới, nên quạt không có tủ thì chưa chạy được. Với quạt DF, mỗi quạt có một bộ điều khiển động cơ riêng trong danh mục linh kiện và tham số đã được hiệu chỉnh trước khi xuất xưởng. Thiếu tủ nghĩa là không chạy thử được đúng cách tại chỗ người bán, và sau khi mua phải tính thêm phần tủ cùng công kỹ thuật viên kiểm tra, cài đặt cho đúng động cơ. Khoản này cần đưa vào giá trước khi chốt.
Làm sao biết quạt trần cũ là truyền động trực tiếp hay qua hộp số khi chưa leo lên?
Hỏi lịch bảo trì của quạt có hạng mục thay dầu không: có thì đó là kết cấu qua hộp số, vì kết cấu truyền động trực tiếp không dùng dầu bôi trơn. Đọc thêm tốc độ trên nhãn động cơ: động cơ cảm ứng thường ghi quanh 1.400 hoặc 2.800 vòng/phút ở 50 Hz, trong khi quạt PMSM truyền động trực tiếp quay chậm, ví dụ DF-73 quay 57 vòng/phút. Bốn phép thử đo tại chỗ có ở bài PMSM và động cơ cảm ứng.
Tháo quạt trần công nghiệp cũ về xưởng mới, điểm treo phải chịu bao nhiêu kg?
MEILILE tính tải thiết kế điểm treo bằng khối lượng tịnh × 6. Với dòng DF: DF-73 nặng 110 kg, điểm treo ≥660 kg; DF-60 nặng 95 kg, ≥570 kg; DF-55 nặng 90 kg, ≥540 kg; DF-50 nặng 70 kg, ≥420 kg; DF-45 nặng 60 kg, ≥360 kg; DF-40 nặng 47 kg, ≥282 kg; DF-35 nặng 40 kg, ≥240 kg; DF-30 nặng 35 kg, ≥210 kg; DF-65 tạm tính 95 kg và ≥570 kg, chưa được nhà máy xác nhận. Con số đã duyệt ở xưởng cũ không dùng lại được: kết cấu ở xưởng mới phải được khảo sát và kỹ sư kết cấu xác nhận như một lần lắp mới.
Nhập khẩu quạt trần công nghiệp đã qua sử dụng có bị giới hạn tuổi thiết bị không?
Có. Theo Quyết định 18/2019/QĐ-TTg, được sửa đổi, bổ sung bởi Quyết định 02/2026/QĐ-TTg, máy móc, thiết bị đã qua sử dụng thuộc chương 84 và 85 nhập khẩu để dùng cho hoạt động sản xuất tại Việt Nam có tuổi thiết bị không vượt quá 10 năm, trừ các lĩnh vực có mức riêng tại Phụ lục I. Tuổi tính theo năm, từ năm sản xuất tới năm hàng về tới cửa khẩu Việt Nam. Quyết định này điều chỉnh việc nhập khẩu; mua bán quạt cũ giữa hai doanh nghiệp trong nước không thuộc phạm vi điều chỉnh của nó. Đây là thông tin tham khảo, không phải ý kiến pháp lý.
Quạt cũ thiếu mã số máy hoặc mất hồ sơ gốc thì có rủi ro gì?
Hồ sơ bảo hành và hồ sơ bàn giao của quạt MEILILE được lưu theo mã số máy, nên quạt không đọc được mã số thì không nối được với hồ sơ đó; lịch sử bảo trì, sửa chữa chỉ còn xem được trong sổ bảo trì người bán giữ. Mất hồ sơ gốc còn nghĩa là không có phiếu đo lúc nghiệm thu để so với số đo khi chạy thử, không có tài liệu vận hành tủ biến tần, và với quạt nhập khẩu thì khó chứng minh năm sản xuất. Khi vẫn muốn mua, ghi rõ trong biên bản những gì đã nhận và chưa nhận, chụp nhãn từng quạt, và tính chi phí kiểm tra lại toàn bộ như với một thiết bị không rõ lịch sử.
Văn bản và nguồn tham chiếu trong bài: Quyết định 18/2019/QĐ-TTg về nhập khẩu máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ đã qua sử dụng, sửa đổi bởi Quyết định 02/2026/QĐ-TTg (văn bản hợp nhất trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ) · Thông tư 45/2013/TT-BTC, Điều 10 · Hướng dẫn sử dụng quạt trần công nghiệp MEILILE (danh mục linh kiện, mục 7.1 tham số biến tần) · Bảng thông số dòng quạt trần DF của MEILILE (khối lượng tịnh, trần tối thiểu, điện áp; tải thiết kế điểm treo = khối lượng tịnh × 6) · Lịch bảo trì ba mốc và biên bản nghiệm thu 12 hạng mục của MEILILE.
Bài viết liên quan: Bảo hành quạt trần công nghiệp bao lâu · Cách lắp đặt quạt trần công nghiệp · Quạt trần công nghiệp có bị rơi không · Bảo trì bảo dưỡng quạt trần công nghiệp · Biến tần quạt trần công nghiệp · Cấu tạo quạt trần HVLS
