Quạt trần DF của MEILILE dùng động cơ PMSM truyền động trực tiếp, không có tụ khởi động, nên thay tụ không phải cách sửa khi gió yếu. Khi quạt công nghiệp chạy yếu, hãy đo gió tại chỗ công nhân đứng và đọc tần số trên màn hình biến tần trước, rồi xét ba nhóm nguyên nhân: ở máy, ở cách bố trí và do kỳ vọng chưa đúng.
Gõ “quạt công nghiệp chạy yếu” vào Google, phần lớn bài viết nói về quạt đứng, quạt treo tường hay quạt hút dùng động cơ cảm ứng: tụ điện yếu, ổ trục khô dầu, điện áp thấp. Lời khuyên đó đúng với loại quạt đó. Bài này viết cho chủ xưởng, quản lý bảo trì và kỹ sư cơ điện đang dùng quạt trần HVLS DF hoặc quạt di động YF của MEILILE, hai dòng quạt chạy bằng động cơ PMSM qua biến tần. Với hai dòng này, thứ tự chẩn đoán khác hẳn.
Điểm khác cơ bản: với quạt trần DF và quạt di động YF, “gió yếu” thường không phải do quạt hỏng. Quạt có thể vẫn quay đúng tốc độ được cài, nhưng gió tới chỗ công nhân đứng bị yếu vì cách đặt quạt, vì vật cản, hoặc vì người dùng đang mong quạt làm một việc mà quạt thổi gió không làm được. Bài này đi theo đúng thứ tự kiểm tra tại hiện trường, từ việc đo, tới ba nhóm nguyên nhân, rồi một bảng tra theo hiện tượng.
Quạt công nghiệp chạy yếu: vì sao cách “thay tụ” không áp dụng cho quạt trần DF?
Các bài hướng dẫn sửa quạt chạy yếu phổ biến hiện nay thường bắt đầu bằng tụ điện. Lý do nằm ở loại động cơ: quạt đứng, quạt treo tường, quạt hút thông thường phần lớn dùng động cơ cảm ứng, đổi tốc độ bằng cách đổi điện áp, nên khi tụ yếu hay điện áp thấp thì quạt quay chậm thấy rõ. Với quạt HVLS đời cũ dùng động cơ cảm ứng, còn có thêm hộp số hoặc dây đai, kèm ba nhóm hỏng hóc quen thuộc: mòn dây đai, rò dầu hộp số và tụ khởi động.

Quạt trần DF của MEILILE thì khác về cấu tạo. Động cơ PMSM truyền động trực tiếp, không có hộp số, dây đai hay tụ khởi động. Động cơ không nối thẳng vào lưới điện mà nhận điện từ tủ biến tần đi kèm từng quạt; tủ đổi tần số cấp vào stator, và với động cơ đồng bộ, tần số quyết định tốc độ quay. Nói cách khác, muốn biết quạt có đang quay đúng tốc độ hay không thì phải nhìn màn hình tủ biến tần, không phải nhìn con tụ. Quạt di động YF cũng đi theo cách đó: hộp biến tần PMSM được tích hợp ngay trên thân quạt, điều khiển vector sóng sin, có 10 cấp tốc độ cài sẵn và màn hình LED.
| Điểm so sánh | Quạt động cơ cảm ứng (quạt đứng, treo tường, quạt hút, HVLS đời cũ) | Quạt PMSM chạy biến tần (DF, YF của MEILILE) |
|---|---|---|
| Cách đổi tốc độ | Thường đổi điện áp; với HVLS đời cũ là hộp chỉnh tốc theo nấc, khoảng 1 đến 2 cấp thô | Đổi tần số: DF chỉnh liên tục (vô cấp), YF có 10 cấp cài sẵn |
| Truyền động | HVLS đời cũ đi qua hộp số hoặc dây đai | Quạt trần DF: động cơ nối thẳng mâm cánh, không hộp số, không dây đai |
| Chỗ hay bị nghi đầu tiên khi gió yếu | Tụ điện, ổ trục khô dầu, điện áp thấp, dây đai trượt | Tần số đang chạy trên màn hình, bụi trên cánh, cảnh báo của biến tần, rồi tới cách bố trí |
| Có hiển thị tình trạng không | Hộp chỉnh tốc theo nấc thường không có màn hình, không báo lỗi | Có màn hình hiển thị số; tủ DF hiện mã lỗi khi tự ngắt bảo vệ |
| Cách sửa hay gặp | Thay tụ, tra dầu, căng hoặc thay dây đai | Quạt trần DF: không có tụ khởi động, dây đai hay hộp số để thay. Cả DF và YF: người vận hành không tự mở tủ hoặc hộp biến tần, chụp màn hình gửi kỹ thuật. |
Có một điều cần nói rõ để tránh hiểu nhầm: tủ biến tần bên trong vẫn có linh kiện điện tử như mọi thiết bị điện tử khác, nhưng đó là phần người dùng không được tự can thiệp. Theo chính sách của MEILILE, bảo hành trọn đời cả động cơ PMSM và biến tần không áp dụng khi tự ý can thiệp vào tủ biến tần, sử dụng sai điện áp hoặc đấu nối sai sơ đồ. Vì vậy, mang tủ ra tiệm điện để “thay tụ cho mạnh” vừa không đúng bệnh, vừa mất quyền bảo hành.
Ý chính: quạt trần DF không có tụ khởi động, hộp số hay dây đai; tốc độ quạt PMSM do tần số của biến tần quyết định, nên khi gió yếu, việc đầu tiên là đọc màn hình biến tần chứ không phải thay tụ.
Trước khi sửa: đo gió ở đâu và đọc màn hình biến tần thế nào?
“Gió yếu” là một câu than phiền, chưa phải một số đo. Trước khi đổi bất cứ thứ gì, hãy biến câu than phiền đó thành hai con số: tốc độ gió tại đúng chỗ công nhân đứng làm việc, và tần số mà biến tần đang chạy. Hai con số này cho biết vấn đề nằm ở máy hay ở chỗ khác.
- Đo gió tại vị trí làm việc, không đo ngay dưới tâm quạt. Dùng máy đo gió cầm tay, đứng đúng chỗ người công nhân đứng máy hoặc ngồi thao tác, ngang tầm người. Đo thêm ở vài điểm: dưới quạt, giữa hai quạt, sát tường, đầu lối đi. Ghi lại cùng giờ đo và cấp tốc độ đang chạy. Cùng một quạt, điểm ngay dưới cánh và điểm giữa hai quạt có thể cho kết quả rất khác nhau; nếu chỉ đo ngay dưới quạt, bạn sẽ không thấy vấn đề bố trí.
- Đối chiếu với mức tham chiếu. QCVN 26:2016/BYT cho phép tốc độ gió tại vị trí làm việc tối đa 1,5 m/s, điều kiện lao động nóng, độ ẩm cao được tăng đến 2 m/s; mức tối thiểu là 0,1 m/s với lao động nhẹ, 0,2 m/s với lao động trung bình và 0,3 m/s với lao động nặng. Quy chuẩn chỉ đặt mức tối thiểu và mức trần; số đo sát mức tối thiểu vẫn là gió yếu. Nếu số đo đã ở mức gió rõ (ví dụ vùng gió nhẹ 0,6–1,2 m/s theo công cụ chọn quạt) mà công nhân vẫn kêu nóng, hãy xét thêm nhóm kỳ vọng phía dưới. Chi tiết quy chuẩn có ở bài tiêu chuẩn nhiệt độ nhà xưởng.
- Đọc màn hình tủ biến tần của quạt DF. Bảng điều khiển của bản tiêu chuẩn có màn hình LED, nhãn phím và đèn báo tiếng Anh (RUN, REV, STOP, ALM, PRGM). Khi quạt đang chạy, màn hình hiện tần số; tần số đặt tăng thì quạt nhanh lên, giảm thì quạt chậm lại, bước chỉnh 0,01 Hz. Con số 0,00 Hz lúc vừa cấp nguồn là trạng thái chờ, không phải lỗi. Nếu đèn ALM sáng hoặc màn hình hiện mã lỗi, chụp lại trước khi làm gì khác.
- So với lúc mới bàn giao. Nếu xưởng có ghi tần số lúc nghiệm thu hoặc trong sổ bảo trì, so với con số hiện tại. Đây là cách nhanh để biết tốc độ có bị ai đó chỉnh xuống hay không. Nếu chưa có sổ, hôm nay là lúc bắt đầu ghi: mục kiểm tra bằng mắt và tai hằng tháng (10 đến 15 phút) trong bài bảo trì bảo dưỡng quạt trần công nghiệp là chỗ hợp lý để ghi thêm tần số và vài điểm đo gió.
Với quạt di động YF, màn hình LED trên thân quạt hiện cấp tốc độ đang chọn. Cấp 1 là cấp thấp, cấp 10 là cấp cao, tốc độ định mức trong bảng thông số là tốc độ ở mức cao; các cấp còn lại dùng để giảm tốc khi cần.
Ý chính: trước khi sửa, đo gió tại đúng chỗ công nhân đứng và đọc tần số trên màn hình biến tần; số đo nằm ở đâu so với QCVN 26:2016/BYT và tần số có khác lúc bàn giao không sẽ chỉ ra nên tìm nguyên nhân ở máy, ở bố trí hay do kỳ vọng chưa đúng.
Nhóm 1, nguyên nhân ở máy: bụi trên cánh, tốc độ bị chỉnh, biến tần tự bảo vệ, nguồn điện
Bảng tra sự cố trong bài bảo trì của MEILILE xếp ba nguyên nhân hay gặp của hiện tượng “chạy yếu, gió giảm” theo thứ tự từ hay gặp tới ít gặp: cánh bám bụi dày, cài đặt tốc độ bị đổi, biến tần tự giới hạn do quá nhiệt. Phần này đi qua từng nguyên nhân, cộng thêm phần nguồn điện và chiều quay.
Bụi bám dày trên cánh
Bộ cánh nhôm dài treo dưới mái là nơi bụi của cả nhà xưởng bám vào. Bụi bám dày làm giảm hiệu suất khí động: quạt vẫn ăn đủ điện, nhưng lượng gió đổi lại ít đi. Dấu hiệu dễ nhận: số kWh mỗi ngày giữ nguyên, mà công nhân phản ánh gió yếu dần. Bụi lại không bao giờ bám đều, nên cùng lúc với gió yếu có thể thấy quạt rung hơn, ồn hơn.
Lịch bảo trì của MEILILE đặt việc vệ sinh cánh tại chỗ mỗi 6 tháng; môi trường nhiều bụi hoặc ẩm thì rút xuống còn 3 đến 4 tháng. Vệ sinh bằng khăn ẩm và chất tẩy trung tính, không dùng vòi xịt áp lực và không dùng dung môi mạnh. Đây là việc trên cao, chỉ làm sau khi đã cắt aptomat và cánh đã dừng hẳn, do kỹ thuật viên hoặc đội nhà máy đã được MEILILE hướng dẫn làm, không giao cho người chưa được hướng dẫn.
Tốc độ cài bị chỉnh xuống
Nếu quạt từng được hạ tốc độ vào buổi sáng mát hoặc ca đêm mà sau đó không ai tăng lại, gió sẽ yếu dù quạt không hỏng. Với quạt trần DF, người vận hành chỉ cần nhấn phím tăng trên bảng điều khiển; tần số tăng thì quạt nhanh lên. Còn các tham số trong menu đã được hiệu chỉnh trước khi xuất xưởng, người vận hành không cần vào menu, và việc thay đổi tham số do kỹ thuật viên MEILILE hoặc đơn vị được MEILILE ủy quyền thực hiện. Nếu quạt nhấn tăng mà tần số không lên được như trước, đó là lúc chụp màn hình gửi kỹ thuật, không tự vào menu thử.
Biến tần tự giới hạn hoặc tự ngắt do quá nhiệt
Biến tần có các lớp tự bảo vệ, trong đó có quá nhiệt bộ tản nhiệt hoặc mô đun. Khe tản nhiệt bám bụi, quạt làm mát của tủ không chạy, tủ bị nắng hắt hoặc nhiệt độ xung quanh cao đều làm tủ khó thoát nhiệt, đặc biệt vào mùa nóng, đúng lúc quạt cần chạy nhiều. Dấu hiệu thường gặp là gió yếu hoặc quạt dừng khi tủ nóng, đặc biệt vào mùa nóng hoặc khi tủ bị nắng hắt, kèm cảnh báo trên màn hình. Việc người vận hành làm được: ngắt aptomat, chờ vài phút cho tụ xả, rồi chỉ vệ sinh khe tản nhiệt bên ngoài vỏ tủ, không mở tủ. Lỗi lặp lại thì gọi kỹ thuật.
Nguồn điện và chiều quay
Với quạt cảm ứng, điện áp thấp làm quạt quay chậm. Với quạt trần DF, tốc độ do tần số đặt quyết định, còn nguồn vào tủ không ổn định thì biến tần có các lớp bảo vệ riêng: thấp áp, quá áp, mất pha đầu vào. Khi nguồn có vấn đề, màn hình hiện mã lỗi nhóm nguồn. Những chỗ nên xem: aptomat, sụt áp giờ cao điểm, tuyến nguồn dùng chung aptomat với máy khác. Người vận hành xem aptomat và chụp mã lỗi; đo điện áp từng pha là việc của kỹ thuật. Thứ tự kiểm tra khi báo lỗi đi từ ngoài vào trong: nguồn điện, phần cơ, tản nhiệt, rồi mới tới tủ. Bài biến tần quạt trần công nghiệp có bảng các nhóm lỗi và cách đọc tại hiện trường.
Còn một trường hợp ít gặp nhưng cần biết: sau khi xưởng sửa lại điện hoặc dời tủ, nếu đấu đảo pha thì quạt thổi ngược, gió xuống sàn yếu hẳn dù quạt quay đều. Quy trình lắp đặt của MEILILE có bước xác nhận chiều quay chính vì lý do này. Không tự đổi dây đầu ra U, V, W; báo kỹ thuật kiểm tra lại.
Ý chính: ở phía máy, xét theo thứ tự bụi bám cánh, tốc độ bị chỉnh xuống, biến tần quá nhiệt, rồi nguồn điện và chiều quay; người vận hành được nhấn phím tăng, vệ sinh khe tản nhiệt bên ngoài vỏ tủ và chụp mã lỗi, phần còn lại là việc của kỹ thuật.
Nhóm 2, nguyên nhân ở cách bố trí: vì sao quạt chạy đủ mà chỗ công nhân đứng vẫn gió yếu?
Nếu màn hình biến tần cho thấy quạt đang chạy đúng tần số, cánh sạch, không có cảnh báo, mà một số chỗ vẫn gió yếu, thì vấn đề thường nằm ở đường đi của luồng gió. Quạt trần HVLS đẩy một cột khí xuống sàn, khối khí chạm sàn rồi lan ngang và yếu dần khi ra xa. Theo quy ước kỹ thuật MEILILE dùng cho công cụ chọn quạt, bề ngang vùng gió hiệu quả khoảng 2,5 lần đường kính cánh; ra ngoài mốc đó tốc độ gió tụt nhanh. Nguyên lý đầy đủ có ở bài nguyên lý quạt trần công nghiệp HVLS.
Hai quạt đặt quá xa nhau: dải gió yếu ở giữa
Khoảng cách giữa hai quạt nên lấy 2 đến 3 lần đường kính. Đặt gần hơn thì hai cột khí đi xuống ép vào nhau và triệt tiêu một phần; đặt xa hơn thì giữa hai quạt hở ra một vệt gió yếu, thường đúng chỗ có người làm việc. Với quạt DF-60 (Ø6,0 m), khoảng cách tâm tới tâm giữa hai quạt nên trong khoảng 12 đến 18 m; xa hơn 18 m thì xuất hiện dải gió yếu giữa hai quạt. Bài quạt trần công nghiệp 6m có ví dụ một xưởng dài 42 m lắp 2 quạt chia đều, khoảng cách tâm tới tâm 21 m, vượt dải 12 đến 18 m, và hai cách xử lý.
Cách kiểm tra rất đơn giản: đo khoảng cách giữa tâm hai quạt, chia cho đường kính cánh. Nếu kết quả lớn hơn 3, dải gió yếu ở giữa là do bố trí, không phải do quạt yếu đi.
Quạt sát tường, góc, hoặc gió bị tường chặn
Quạt đặt quá gần vách không có đủ chỗ cho luồng gió lan ra; với quạt DF-60, trang quạt trần công nghiệp 6m của MEILILE ghi cách vách tối thiểu 3 m. Trong kho có kệ, đường lan ngang chỉ còn là các lối đi, nên hướng dãy kệ quyết định gió tới được đâu: dãy kệ chạy dọc chiều dài kho thì gió chạy dọc các lối đi song song, và chỗ gió yếu thường là đầu lối đi bị tường chặn. Kho có kệ cao xem thêm trang giải pháp quạt cho kho bãi và logistics.
Vật cản dưới cánh: cầu trục, đèn, ống gió, vách ngăn
Diện tích phủ gió mà MEILILE công bố cho từng model DF đi kèm điều kiện: không vách ngăn cao, dưới cánh không vật cản, chiều cao trần phù hợp với model. Một đường cầu trục chạy ngang ngay dưới cánh, một dãy đèn treo thấp, một ống gió hoặc máng cáp lớn, một vách ngăn cao giữa hai khu đều cắt cột khí đi xuống hoặc chặn đường lan ngang. Khi đó quạt vẫn chạy đúng tốc độ, nhưng gió tới sàn bị chia nhỏ hoặc lệch sang chỗ khác.
Treo cao hơn mức phù hợp với model
Mỗi model DF có chiều cao lắp phù hợp riêng, ghi trong bảng thông số từng model trên trang quạt trần HVLS DF. Quạt treo cao hơn mức phù hợp thì cột khí phải đi một quãng dài hơn mới tới chỗ người đứng. Nếu xưởng đã dời điểm treo, nâng mái hay thay đổi kết cấu sau khi lắp, nên gửi lại chiều cao thực tế tới điểm treo để kỹ thuật đối chiếu.
Model nhỏ so với khu cần làm mát
Đây là trường hợp hay gặp khi mua theo con số diện tích. Bảng vùng phủ của MEILILE có hai cột: phủ gió mạnh làm mát người, và phủ thông gió, lưu thông ở vùng rìa gió nhẹ; cột gió mạnh bằng 60% cột thông gió. Ví dụ, DF-60 phủ khoảng 510 m² ở mức gió mạnh làm mát người và khoảng 850 m² ở mức thông gió. Nếu khu có công nhân đứng máy cố định mà số quạt lại được tính theo cột thông gió, phần rìa của mỗi vùng sẽ chỉ có gió nhẹ, và công nhân ở đó kêu gió yếu dù quạt không có gì hỏng. Các con số vùng phủ là giá trị tham khảo kỹ thuật của MEILILE; số lượng quạt thực tế do khảo sát hiện trường quyết định. Muốn tự ước tính trước, dùng công cụ chọn quạt trần HVLS hoặc đọc bài cách chọn quạt HVLS theo diện tích.
Ý chính: quạt chạy đúng tần số mà vẫn có chỗ gió yếu thì xét bố trí: khoảng cách giữa hai quạt quá 3 lần đường kính, quạt sát tường hoặc gió bị kệ và tường chặn, vật cản dưới cánh, treo cao hơn mức phù hợp, hoặc số quạt tính theo cột thông gió thay vì cột gió mạnh.
Nhóm 3, nguyên nhân do kỳ vọng chưa đúng: gió có thật sự yếu, hay chỉ là cảm giác?
Có những lần quạt chạy đủ, bố trí đúng, số đo gió tại chỗ làm việc nằm trong khoảng hợp lý, mà phản hồi vẫn là “quạt yếu quá”. Trường hợp này không cần sửa máy; cần nói đúng về việc quạt thổi gió làm được gì và không làm được gì.
- Quạt thổi gió không làm giảm nhiệt độ không khí. Quạt trần HVLS và quạt di động chỉ khuấy khối khí đang có, nên nhiệt kế trong xưởng vẫn chỉ con số cũ. Điều quạt thay đổi được là độ mát cảm nhận của người đứng trong luồng gió. Nếu ai đó đánh giá quạt bằng cách nhìn nhiệt kế treo tường, quạt nào cũng sẽ bị coi là “yếu”. Muốn ước lượng độ mát cảm nhận theo nhiệt độ, độ ẩm và công việc cụ thể, dùng công cụ trong bài quạt công nghiệp làm mát được bao nhiêu độ.
- Ngày nóng ẩm cảm giác khác ngày khô. Độ mát cảm nhận phụ thuộc cả nhiệt độ, độ ẩm, mức độ nặng của công việc và quần áo. Cùng một tốc độ gió, ngày nóng ẩm người ta thấy ít mát hơn. Vì vậy, so sánh “hôm qua mát, hôm nay yếu” nên đi kèm số đo gió tại cùng một điểm; nếu tốc độ gió không đổi, thứ thay đổi là thời tiết, không phải quạt.
- Đo sai chỗ, so sai mốc. Một số đo lấy ngay dưới tâm quạt so với một số đo lấy ở rìa vùng gió sẽ chênh nhau nhiều. Một số đo lấy lúc quạt đang chạy cấp thấp buổi sáng cũng không so được với lúc chạy cao giờ trưa. Ghi rõ điểm đo, giờ đo, tần số hoặc cấp tốc độ, rồi mới so.
- Gió mạnh hơn không phải lúc nào cũng tốt hơn ở chỗ làm việc cố định. Tại vị trí làm việc cố định, quy chuẩn đặt mức trần cho tốc độ gió (1,5 m/s, hoặc 2 m/s với điều kiện nóng ẩm). Với quạt trần DF chỉnh tốc độ vô cấp, cách làm đúng là chỉnh sao cho số đo tại vị trí làm việc cố định không vượt mức trần áp cho vị trí đó.
- Quạt không thay được điều hòa. Khu cần hạ nhiệt độ không khí thật, như phòng sạch hay kho hàng nhạy nhiệt, là bài toán khác. Quạt giúp giảm cảm giác nóng và trộn khối khí dưới mái; nó không biến một xưởng mái tôn thành phòng lạnh.
Ý chính: quạt thổi gió không hạ được số trên nhiệt kế, chỉ giảm cảm giác nóng của người trong luồng gió; khi số đo gió tại chỗ làm việc đã hợp lý mà vẫn bị kêu yếu, hãy kiểm tra cách đo, thời tiết và điều người dùng đang mong ở quạt trước khi nghĩ tới sửa máy.
Quạt di động YF gió yếu: đặt xa quá, sai góc hay đang chạy cấp thấp?
Với quạt di động YF, nguyên nhân gió yếu hay gặp là khoảng cách. Bảng thông số ghi tầm gió tối đa: YF-900 khoảng 15 m, YF-1200 khoảng 25 m, YF-1500 khoảng 35 m, YF-1800 khoảng 50 m (YF-1800 chỉ có kiểu trống lăn Type A, nhận theo đơn đặt hàng). Tầm gió tối đa là khoảng cách gió còn khoảng 0,5 m/s, không phải khoảng cách người đứng còn thấy mát. Người đứng xa hơn tầm gió thì gió mới thật sự yếu; kê quạt sao cho người đứng ở sát hoặc quá mốc tối đa là lý do nhiều xưởng mua đúng model mà vẫn kêu gió yếu.
Công cụ chọn quạt di động của MEILILE dùng một hệ số cho việc này: khoảng cách làm mát hiệu quả bằng 0,6 lần tầm gió tối đa, là khoảng cách mà gió còn từ 1,5 m/s trở lên. Quy ra từng model:
| Model | Tầm gió tối đa | Khoảng cách làm mát hiệu quả | Ghi chú |
|---|---|---|---|
| YF-900 | 15 m | 9 m | Type A trống lăn, Type B đứng chỉnh góc |
| YF-1200 | 25 m | 15 m | Type A trống lăn, Type B đứng chỉnh góc |
| YF-1500 | 35 m | 21 m | Type A trống lăn, Type B đứng chỉnh góc |
| YF-1800 | 50 m | 30 m | Chỉ Type A, nhận theo đơn đặt hàng |
Ba việc kiểm tra theo thứ tự:
- Khoảng cách. Đo từ quạt tới người đứng làm việc. Vị trí làm việc cố định nên nằm trong khoảng từ khoảng cách làm mát hiệu quả (0,6 lần tầm gió) tới tầm gió, nơi gió còn khoảng 0,5–1,5 m/s theo giá trị tham khảo, phù hợp mức trần của QCVN 26:2016/BYT. Người đứng xa hơn tầm gió thì dời quạt lại gần hoặc thêm một quạt; người cần gió mạnh hơn mà không ngồi cố định một chỗ thì có thể đứng gần hơn mốc 0,6 lần. Muốn tính lại số quạt và cách đặt, dùng công cụ chọn quạt di động YF.
- Góc và hướng. Kiểu đứng Type B chỉnh góc gió từ −45° đến +90°. Quạt ngửa lên quá nhiều hoặc chúc xuống sàn quá gần sẽ đưa luồng gió qua đầu hoặc xuống chân người làm việc. Kiểm tra xem luồng gió có bị máy móc, thùng hàng hay vách chắn ngang giữa quạt và người không. Với Type C tự đảo gió trái phải (nhận theo đơn đặt hàng), một vị trí cố định có thể chỉ nhận gió trong một phần chu kỳ đảo; đó là cách quạt chia gió cho vùng rộng hơn. Nếu cần gió liên tục tại một điểm, dùng Type A hoặc Type B thổi định hướng.
- Cấp tốc độ. Xem cấp đang chọn trên màn hình LED. Hộp biến tần trên thân quạt có 10 cấp tốc độ cài sẵn; cấp 1 là cấp thấp, cấp 10 là cấp cao. Nếu quạt còn để ở cấp thấp từ ca trước, tăng cấp rồi đo lại.
Quạt YF có bảo vệ quá tải, quá nhiệt, mất pha và tự báo động khi có bất thường. Nếu cả ba việc trên đã đúng mà gió vẫn yếu rõ so với trước, hoặc màn hình báo bất thường, hãy chụp màn hình, quay video ngắn và gửi kỹ thuật. Hộp biến tần tích hợp trên thân quạt là phần không tự mở.
Ý chính: quạt di động YF gió yếu thường do người đứng xa hơn tầm gió tối đa, sai góc hoặc bị chắn, hoặc đang chạy cấp thấp; vị trí làm việc cố định nên nằm trong khoảng từ 0,6 lần tầm gió tới tầm gió. Kiểm tra ba việc đó trước khi nghĩ tới hỏng hóc.
Bảng chẩn đoán quạt công nghiệp gió yếu theo hiện tượng
Bảng dưới đây gom các trường hợp ở trên theo hiện tượng bạn thấy tại xưởng. Bảng này chỉ dành cho một triệu chứng là gió yếu, bao gồm cả các nguyên nhân không phải hỏng hóc. Các sự cố khác như rung lắc, tiếng kêu lạ hay quạt không chạy, xem bảng tra sự cố trong bài bảo trì bảo dưỡng quạt trần công nghiệp.
| Hiện tượng bạn thấy | Kiểm tra gì trước | Nguyên nhân có thể | Ai xử lý |
|---|---|---|---|
| Tần số trên màn hình thấp hơn lúc bàn giao | So tần số hiện tại với sổ nghiệm thu hoặc sổ bảo trì | Tốc độ đã bị chỉnh xuống, quạt không hỏng | Người vận hành nhấn phím tăng; tham số trong menu do kỹ thuật MEILILE chỉnh |
| Gió yếu dần theo tháng, kWh mỗi ngày không đổi | Nhìn mặt cánh có bám bụi dày, bám lệch không | Bụi làm giảm hiệu suất khí động | Kỹ thuật viên hoặc đội nhà máy đã được MEILILE hướng dẫn vệ sinh cánh |
| Gió yếu hoặc quạt dừng khi tủ nóng (mùa nóng, tủ bị nắng hắt), có cảnh báo | Khe tản nhiệt tủ, quạt làm mát của tủ, tủ có bị nắng hắt không | Biến tần tự bảo vệ do quá nhiệt | Người vận hành ngắt aptomat, chờ vài phút cho tụ xả, rồi chỉ vệ sinh khe tản nhiệt bên ngoài vỏ tủ, không mở tủ; lặp lại thì gọi kỹ thuật |
| Màn hình hiện mã lỗi thấp áp, quá áp hoặc mất pha đầu vào | Aptomat, giờ cao điểm, máy khác dùng chung tuyến nguồn | Nguồn cấp vào tủ không ổn định | Người vận hành chụp mã lỗi; đo điện áp từng pha là việc của kỹ thuật |
| Sau khi sửa điện, gió xuống dưới quạt yếu hẳn | Chiều quay của quạt | Có thể đấu đảo pha, quạt thổi ngược | Kỹ thuật kiểm tra lại; không tự đổi dây U, V, W |
| Dưới quạt mát, giữa hai quạt gió yếu | Đo khoảng cách tâm tới tâm, chia cho đường kính cánh | Lớn hơn 3 lần đường kính thì có dải gió yếu do bố trí | Gửi mặt bằng cho MEILILE xem lại vị trí treo |
| Sát tường, đầu lối đi kho gió yếu | Khoảng cách quạt tới vách, hướng dãy kệ | Luồng gió lan ngang bị tường hoặc kệ chặn | MEILILE xem lại bố trí theo mặt bằng |
| Một khu gió yếu, phía trên có cầu trục, đèn, ống gió | Vật cản ngay dưới cánh hoặc vách ngăn cao | Cột khí bị cắt, gió tới sàn bị chia nhỏ | Gửi ảnh và mặt bằng cho MEILILE |
| Cả khu làm việc gió nhẹ đều, quạt chạy đủ | Diện tích khu so với cột gió mạnh của model đang dùng | Số quạt được tính theo cột thông gió, không đủ cho khu làm việc cố định | MEILILE tính lại theo khảo sát |
| Nhiệt kế không giảm, công nhân vẫn kêu nóng | Số đo gió tại chỗ làm việc, độ ẩm hôm đó | Quạt không hạ nhiệt độ không khí; nếu gió đã đủ thì đây là kỳ vọng chưa đúng, không phải quạt hỏng | Quản lý xưởng; ước lượng độ mát cảm nhận bằng công cụ của MEILILE |
| Quạt YF: người đứng xa than gió yếu | Khoảng cách từ quạt tới người | Người đứng xa hơn tầm gió tối đa | Người vận hành dời quạt hoặc thêm quạt |
| Quạt YF: gió yếu ngay cả ở gần | Cấp tốc độ trên màn hình LED, góc đầu quạt, vật chắn | Đang chạy cấp thấp, sai góc hoặc bị chắn; nếu đều đúng thì gửi kỹ thuật | Người vận hành; màn hình báo bất thường thì gửi kỹ thuật MEILILE |
Đọc bảng theo hàng từ trên xuống: mấy hàng phía trên là những việc có thể kiểm tra ngay trong ca làm việc, không cần lên cao và không cần mở tủ. Chỉ khi các khả năng ở những hàng đó đều đã được loại trừ mới cần tới đo kiểm chuyên sâu.
Ý chính: gió yếu có thể do máy, do bố trí hoặc do cách đo và kỳ vọng chưa đúng; bảng này giúp người vận hành loại trừ nhanh những gì tự kiểm tra được và biết khi nào phải chuyển cho kỹ thuật MEILILE.
Khi nào nên gửi cho MEILILE, và gửi những gì qua Zalo?
Nên liên hệ kỹ thuật MEILILE khi gặp một trong các trường hợp sau: màn hình báo mã lỗi lặp lại sau khi đã kiểm tra nguồn điện, phần cơ và tản nhiệt; gió vẫn yếu sau khi đã vệ sinh cánh và cài đúng tốc độ; nghi quạt thổi ngược sau khi sửa điện; hoặc khi nguyên nhân rõ ràng nằm ở cách bố trí và cần tính lại vị trí treo, số quạt.
Gửi qua Zalo theo hai nhóm thông tin, tùy loại vấn đề:
- Nếu nghi ở máy: model quạt và mã model trên nhãn, điện áp nguồn đang cấp (220 V hay 380 V), ảnh màn hình tủ biến tần lúc đang chạy (tần số) hoặc ảnh mã lỗi, video hiện tượng, ảnh vị trí đặt tủ, và những việc đã làm trước đó. Mã lỗi giúp kỹ thuật chẩn đoán từ xa trước khi phải đến tận nơi.
- Nếu nghi ở bố trí: mặt bằng hoặc bản vẽ khu đặt quạt, kích thước dài và rộng, chiều cao tới điểm treo, vị trí các quạt hiện tại, chỗ công nhân đứng làm việc, vị trí cầu trục, đèn, ống gió, dãy kệ, cùng các số đo gió bạn đã đo (ghi rõ điểm đo và giờ đo).
MEILILE phản hồi trong 1 giờ vào ngày làm việc và 24 giờ vào ngày nghỉ, chẩn đoán từ xa qua mã lỗi trước; khi cần thay linh kiện, linh kiện có sẵn tại kho Bình Dương và văn phòng Bắc Ninh. Phần sửa chữa thuộc phạm vi chính sách bảo hành trọn đời khi lỗi do vật liệu hoặc sản xuất trong điều kiện vận hành bình thường.
Ý chính: lỗi lặp lại, gió vẫn yếu sau khi vệ sinh và cài đúng tốc độ, nghi thổi ngược, hoặc cần tính lại bố trí thì gửi MEILILE qua Zalo: ảnh màn hình hoặc mã lỗi, video, model, điện áp, và mặt bằng kèm số đo gió.
Câu hỏi thường gặp về quạt công nghiệp chạy yếu
Quạt trần công nghiệp chạy yếu có phải do hỏng tụ không?
Với quạt trần DF của MEILILE thì không. Quạt DF dùng động cơ PMSM truyền động trực tiếp, không có tụ khởi động, hộp số hay dây đai; tốc độ do tần số của tủ biến tần đi kèm quyết định. Khi gió yếu, việc đầu tiên là đọc tần số trên màn hình biến tần, xem cánh có bám bụi dày không và tủ có báo lỗi không. Lời khuyên thay tụ dành cho quạt đứng, quạt treo tường, quạt hút dùng động cơ cảm ứng.
Làm sao biết quạt chạy yếu thật hay chỉ là cảm giác?
Đo gió bằng máy đo gió tại đúng chỗ công nhân đứng làm việc, ghi giờ đo và tần số hoặc cấp tốc độ đang chạy, rồi so với số đo cũ ở cùng điểm. QCVN 26:2016/BYT cho phép tốc độ gió tại vị trí làm việc tối đa 1,5 m/s, điều kiện nóng ẩm đến 2 m/s. Quạt thổi gió không làm giảm nhiệt độ trên nhiệt kế, chỉ giảm cảm giác nóng, nên nếu nhìn nhiệt kế để đánh giá thì quạt nào cũng có vẻ yếu.
Vệ sinh cánh xong mà quạt trần vẫn gió yếu thì làm gì?
Kiểm tra tần số trên màn hình biến tần có thấp hơn lúc bàn giao không và nhấn phím tăng nếu tốc độ đã bị chỉnh xuống. Xem tủ có cảnh báo quá nhiệt hay mã lỗi nhóm nguồn không. Nếu quạt chạy đúng tần số, không có lỗi, thì xét cách bố trí: khoảng cách giữa hai quạt, vật cản dưới cánh, khoảng cách tới vách. Gió vẫn yếu sau khi vệ sinh và cài đúng tốc độ thì cần kỹ thuật MEILILE đo kiểm chuyên sâu.
Vì sao giữa hai quạt trần lại có một dải gió yếu?
Bề ngang vùng gió hiệu quả của quạt trần HVLS khoảng 2,5 lần đường kính cánh, nên khoảng cách giữa hai quạt nên lấy 2 đến 3 lần đường kính. Đặt xa hơn thì giữa hai quạt hở ra một vệt gió yếu. Với DF-60 (Ø6,0 m), khoảng cách tâm tới tâm nên trong khoảng 12 đến 18 m; xa hơn 18 m thì xuất hiện dải gió yếu giữa hai quạt. Đây là vấn đề bố trí, không phải quạt hỏng.
Quạt di động YF đặt bao xa thì công nhân còn thấy mát?
Theo hệ số của công cụ chọn quạt di động MEILILE, khoảng cách làm mát hiệu quả bằng 0,6 lần tầm gió tối đa, là khoảng cách mà gió còn từ 1,5 m/s trở lên: YF-900 khoảng 9 m, YF-1200 khoảng 15 m, YF-1500 khoảng 21 m, YF-1800 khoảng 30 m (YF-1800 nhận theo đơn đặt hàng). Ngoài khoảng đó gió dưới 1,5 m/s; vị trí làm việc cố định đặt trong khoảng từ 0,6 lần tầm gió tới tầm gió là hợp với mức trần của quy chuẩn, còn xa hơn tầm gió thì gió mới thật sự yếu.
Quạt chạy yếu thì cần gửi gì cho MEILILE?
Gửi qua Zalo model quạt và mã model trên nhãn, điện áp nguồn đang cấp (220 V hay 380 V), ảnh màn hình biến tần hoặc ảnh mã lỗi, video hiện tượng, ảnh vị trí đặt tủ và những việc đã làm. Nếu nghi do bố trí, gửi thêm mặt bằng, chiều cao tới điểm treo, vị trí công nhân đứng và các số đo gió. MEILILE phản hồi trong 1 giờ vào ngày làm việc và 24 giờ vào ngày nghỉ, chẩn đoán từ xa qua mã lỗi trước.
Nguồn số liệu trong bài: mức tốc độ gió tại vị trí làm việc theo QCVN 26:2016/BYT (ban hành kèm Thông tư 26/2016/TT-BYT) của Bộ Y tế. Cấu tạo động cơ, cách đọc màn hình và các lớp tự bảo vệ của biến tần, lịch vệ sinh cánh, vùng phủ gió, khoảng cách giữa hai quạt, tầm gió và hệ số khoảng cách làm mát hiệu quả của quạt di động, thời gian phản hồi và chính sách bảo hành theo tài liệu MEILILE công bố. Cột quạt động cơ cảm ứng trong bảng so sánh tóm tắt những gì các bài hướng dẫn sửa quạt phổ biến thường nêu.
Bài viết liên quan: Bảo trì bảo dưỡng quạt trần công nghiệp · Biến tần quạt trần công nghiệp · Bộ điều khiển quạt trần công nghiệp · Nguyên lý quạt trần HVLS · Động cơ PMSM và động cơ cảm ứng · Quạt làm mát được bao nhiêu độ
