Số liệu khí hậu trong QCVN 02:2022/BXD là số đo của trạm khí tượng ngoài trời, không phải nhiệt độ nhà xưởng. Vào tháng nóng nhất, nhiệt độ cao nhất trung bình (bảng A.3) vượt 34 °C ở 7 trong 25 trạm, cao nhất là Đồng Phú (Đồng Xoài) 35,6 °C (tháng 4); 24 trạm vượt 32 °C, mức trên cho lao động trung bình theo QCVN 26:2016/BYT. Miền Bắc nóng nhất vào tháng 6, 7, cùng lúc ẩm trên 80%, như Phù Liễn (Hải Phòng) 86,6% tháng 7.
Nhà xưởng của bạn nằm ở vùng nóng đến mức nào vào tháng nóng nhất, và ngay ngoài trời, mức đó đã vượt giới hạn cho phép tại nơi làm việc hay chưa? Bài này trả lời bằng một nguồn chính thức: các bảng khí hậu trong quy chuẩn QCVN 02:2022/BXD do Bộ Xây dựng ban hành. MEILILE gom số liệu tháng nóng nhất của 25 trạm khí tượng gần các vùng có nhiều nhà xưởng vào một bảng nhiệt độ, độ ẩm theo tỉnh, đặt cạnh các mức cho phép của QCVN 26:2016/BYT về vi khí hậu nơi làm việc, chỉ ra vùng nào có nhiệt độ ngoài trời vượt mốc 34, 32, 30 °C, vùng nào vừa nóng vừa ẩm, và giải thích vì sao con số 38–40 °C hay gặp không phải nhiệt độ dùng để thiết kế. Mọi con số khí hậu trong bài đều ghi tên bảng; chỗ nào là cách đọc hoặc đề xuất của MEILILE, bài ghi rõ.
QCVN 02:2022/BXD là gì, và những bảng nào trong đó dùng được cho nhà xưởng
QCVN 02:2022/BXD là Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về số liệu điều kiện tự nhiên dùng trong xây dựng, ban hành kèm Thông tư 02/2022/TT-BXD, do Thứ trưởng Bộ Xây dựng Lê Quang Hùng ký ngày 26/9/2022. Thông tư ghi hiệu lực “sau 06 tháng kể từ ngày ban hành”, tức từ ngày 26/3/2023, đồng thời bãi bỏ Thông tư 29/2009/TT-BXD; lời nói đầu của quy chuẩn viết QCVN 02:2022/BXD thay thế QCVN 02:2009/BXD. Mục 1.5.1 ghi rõ nguồn: số liệu khí hậu ở Chương 2 do Viện Khoa học khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu, Bộ Tài nguyên và Môi trường, cung cấp. Bản gốc có chữ ký số nằm trên cơ sở dữ liệu văn bản của Chính phủ (tệp PDF 619 trang); toàn văn thông tư và quy chuẩn cũng có trên LuatVietnam.

Phụ lục A của quy chuẩn có nhiều bảng khí hậu. Để trả lời câu hỏi “mùa nóng ở chỗ đặt nhà xưởng nóng và ẩm đến đâu”, MEILILE dùng năm bảng:
- Bảng A.2, nhiệt độ không khí trung bình tháng và năm: con số trung bình của cả tháng. Bài này dùng nó để xác định tháng nóng nhất của từng trạm.
- Bảng A.3, nhiệt độ không khí cao nhất trung bình tháng và năm: mức cao nhất trung bình trong tháng, sát với cái nóng ban ngày thường gặp hơn con số của bảng A.2.
- Bảng A.5, nhiệt độ không khí cao nhất tuyệt đối tháng và năm: giá trị cao nhất ghi nhận trong chuỗi số liệu của bảng (văn bản không ghi giai đoạn); cột “Năm” là mức cao nhất tuyệt đối của cả năm.
- Bảng A.10, độ ẩm tương đối của không khí trung bình tháng và năm (%): độ ẩm trung bình của từng tháng.
- Bảng A.14, tần suất xuất hiện các cấp nhiệt ẩm (‰): mỗi trạm một bảng hai chiều, hàng là các cấp nhiệt độ cách nhau 2 °C, cột là các cấp độ ẩm cách nhau 4%, cộng cả bảng bằng 1000 ‰. Bảng này chỉ có 54 trạm.
Các bảng A.2 đến A.10 cùng một cấu trúc: tên trạm, 12 tháng và cột năm, mỗi bảng 152 dòng trạm. Cách dùng nằm ở mục 2.2.1: “Khi sử dụng, cần lấy số liệu của các trạm khí tượng gần địa điểm xây dựng nhất”, và khi địa hình, cao độ khác biệt nhiều thì “tham khảo thêm các số liệu khí hậu thực tế tại nơi xây dựng”. Bài này chọn 25 trạm gần các vùng có nhiều khu công nghiệp; việc chọn trạm nào là của MEILILE, các trạm khác tra trực tiếp trong văn bản gốc.
Trước hết, đây là số liệu của trạm khí tượng, đo ngoài trời, nên nhiệt độ mùa hè các tỉnh trong các bảng này không phải nhiệt độ nhà xưởng. Trong xưởng nóng hơn hay mát hơn ngoài trời phụ thuộc mái, thông gió và nguồn nhiệt của từng xưởng; MEILILE không có số liệu chính thức nào cho mức chênh đó, nên bài này không cộng thêm độ nào vào số của trạm. Ngoài ra, QCVN 02:2022/BXD không đưa ra “nhiệt độ tính toán mùa hè” hay số giờ cho phép không đảm bảo: mục 1.3 giải thích 16 thuật ngữ, đều về bão, động đất, lũ, sét, và chữ “tính toán” chỉ xuất hiện ở phần tải trọng gió của Chương 5. Nhiệt độ dùng để thiết kế thông gió nằm ở một tiêu chuẩn khác, xem mục nhiệt độ tính toán.
Bảng nhiệt độ, độ ẩm tháng nóng nhất của 25 trạm khí tượng, theo vùng
Bảng dưới gom bốn bảng A.2, A.3, A.5, A.10 cho 25 trạm. Cách đọc từng cột: “tháng nóng nhất” là tháng có nhiệt độ trung bình cao nhất trong bảng A.2; cột A.3 là giá trị lớn nhất trong 12 tháng của bảng A.3 (hai tháng bằng nhau thì ghi tháng sớm hơn); cột A.5 là cột “Năm” của bảng A.5; cột A.10 ghi độ ẩm của tháng nóng nhất, rồi của tháng 6 và tháng 7. Tên tỉnh sau sắp xếp theo Nghị quyết 202/2025/QH15 (xem mục tên tỉnh mới). Tên tỉnh trong cột thứ hai dẫn tới trang thông tin của MEILILE cho tỉnh đó.

| Trạm | Tỉnh cũ → tỉnh sau sắp xếp | Tháng nóng nhất (A.2) | Cao nhất trung bình, tháng cao nhất trong năm (A.3) | Cao nhất tuyệt đối năm (A.5) | Độ ẩm tháng nóng nhất (A.10) | Độ ẩm tháng 6 / tháng 7 (A.10) |
|---|---|---|---|---|---|---|
| Bắc Bộ | ||||||
| Hà Nội | Hà Nội → không sắp xếp | Tháng 7 · 29,4 °C | 33,4 °C (tháng 6) | 41,8 °C (tháng 6) | 80,7% | 80,0% / 80,7% |
| Hiệp Hòa | Bắc Giang → Bắc Ninh | Tháng 6 · 28,9 °C | 32,9 °C (tháng 6) | 40,0 °C (tháng 6) | 83,7% | 83,7% / 84,1% |
| Bắc Giang | Bắc Giang → Bắc Ninh | Tháng 7 · 29,1 °C | 32,8 °C (tháng 6) | 40,8 °C (tháng 6) | 82,6% | 82,3% / 82,6% |
| Phù Liễn | Hải Phòng → Hải Phòng (gồm cả Hải Dương) | Tháng 7 · 28,4 °C | 32,1 °C (tháng 7) | 39,5 °C (tháng 6) | 86,6% | 86,8% / 86,6% |
| Hải Dương | Hải Dương → Hải Phòng | Tháng 7 · 29,2 °C | 32,6 °C (tháng 6) | 40,2 °C (tháng 6) | 83,6% | 83,5% / 83,6% |
| Bãi Cháy | Quảng Ninh → không sắp xếp | Tháng 7 · 28,6 °C | 31,7 °C (tháng 7) | 37,9 °C (tháng 7) | 83,6% | 83,8% / 83,6% |
| Thái Nguyên | Thái Nguyên → Thái Nguyên | Tháng 7 · 28,7 °C | 32,8 °C (tháng 6) | 40,8 °C (tháng 6) | 83,5% | 82,3% / 83,5% |
| Vĩnh Yên | Vĩnh Phúc → Phú Thọ | Tháng 7 · 29,3 °C | 33,3 °C (tháng 6) | 41,4 °C (tháng 6) | 81,6% | 80,7% / 81,6% |
| Nam Định | Nam Định → Ninh Bình | Tháng 7 · 29,4 °C | 33,0 °C (tháng 6) | 40,2 °C (tháng 6) | 81,8% | 82,0% / 81,8% |
| Bắc Trung Bộ | ||||||
| Thanh Hóa | Thanh Hóa → không sắp xếp | Tháng 7 · 29,2 °C | 33,2 °C (tháng 6) | 40,7 °C (tháng 5) | 81,0% | 80,6% / 81,0% |
| Vinh | Nghệ An → không sắp xếp | Tháng 7 · 29,9 °C | 34,3 °C (tháng 7) | 40,9 °C (tháng 7) | 73,7% | 74,5% / 73,7% |
| Huế | Thừa Thiên Huế → Huế, không sắp xếp | Tháng 6 · 29,3 °C | 34,7 °C (tháng 6) | 41,3 °C (tháng 5) | 75,4% | 75,4% / 74,1% |
| Duyên hải Nam Trung Bộ | ||||||
| Đà Nẵng | Đà Nẵng → Đà Nẵng (gồm cả Quảng Nam) | Tháng 6 · 29,4 °C | 34,5 °C (tháng 6) | 40,6 °C (tháng 5) | 76,4% | 76,4% / 75,8% |
| Quảng Ngãi | Quảng Ngãi → Quảng Ngãi (gồm cả Kon Tum) | Tháng 6 · 29,1 °C | 34,6 °C (tháng 6) | 40,5 °C (tháng 6) | 78,5% | 78,5% / 78,7% |
| Quy Nhơn | Bình Định → Gia Lai | Tháng 6 · 30,0 °C | 34,3 °C (tháng 7) | 40,7 °C (tháng 5) | 73,5% | 73,5% / 71,7% |
| Nha Trang | Khánh Hòa → Khánh Hòa (gồm cả Ninh Thuận) | Tháng 6 · 28,8 °C | 32,7 °C (tháng 6) | 37,9 °C (tháng 7) | 77,2% | 77,2% / 76,9% |
| Phan Thiết | Bình Thuận → Lâm Đồng | Tháng 5 · 28,6 °C | 32,6 °C (tháng 5) | 38,7 °C (tháng 5) | 79,8% | 81,4% / 83,2% |
| Tây Nguyên | ||||||
| Buôn Ma Thuột | Đắk Lắk → Đắk Lắk (gồm cả Phú Yên) | Tháng 4 · 26,1 °C | 33,3 °C (tháng 4) | 38,5 °C (tháng 4) | 72,8% | 84,8% / 86,1% |
| Nam Bộ | ||||||
| Đồng Phú (Đồng Xoài) | Bình Phước → Đồng Nai | Tháng 4 · 28,4 °C | 35,6 °C (tháng 4) | 40,6 °C (tháng 3) | 74,4% | 84,4% / 86,1% |
| Tây Ninh | Tây Ninh → Tây Ninh (gồm cả Long An) | Tháng 4 · 29,0 °C | 35,2 °C (tháng 4) | 39,9 °C (tháng 4) | 74,7% | 84,1% / 84,1% |
| Vũng Tàu | Bà Rịa - Vũng Tàu → TP. Hồ Chí Minh | Tháng 5 · 28,8 °C | 32,4 °C (tháng 5) | 36,7 °C (tháng 5) | 79,1% | 81,7% / 82,8% |
| Mỹ Tho | Tiền Giang → Đồng Tháp | Tháng 4 · 28,6 °C | 33,6 °C (tháng 4) | 38,9 °C (tháng 2) | 78,0% | 83,1% / 83,7% |
| Cần Thơ | Cần Thơ → Cần Thơ (gồm cả Sóc Trăng, Hậu Giang) | Tháng 4 · 28,5 °C | 33,9 °C (tháng 4) | 40,0 °C (tháng 4) | 78,2% | 86,0% / 86,2% |
| Cà Mau | Cà Mau → Cà Mau (gồm cả Bạc Liêu) | Tháng 4 · 28,5 °C | 33,4 °C (tháng 4) | 38,2 °C (tháng 5) | 78,2% | 85,4% / 85,9% |
| Rạch Giá | Kiên Giang → An Giang | Tháng 4 · 28,9 °C | 33,5 °C (tháng 4) | 37,9 °C (tháng 4) | 78,2% | 84,1% / 85,0% |
Ba trường hợp trong bảng cần ghi chú riêng:
- Trạm Hà Nội: các bảng A.2, A.3, A.5 và A.10 mà bài này dùng ghi tên “Hà Nội”, còn bảng A.8 và A.14 ghi “Láng”; trong bảng tọa độ A.1, nhóm trạm của Hà Nội gồm Ba Vì, Hà Đông, Sơn Tây và Láng (ghi kèm Đống Đa), đúng thứ tự với Ba Vì, Hà Đông, Sơn Tây, Hà Nội ở các bảng sau. MEILILE hiểu đây là cùng một trạm Láng; văn bản không ghi thẳng điều này.
- Bắc Ninh và Biên Hòa: bảng A.1 không có trạm nào đặt ở Bắc Ninh, Biên Hòa hay Bình Dương. Với Bắc Ninh cũ, MEILILE lấy hai trạm Hiệp Hòa và Bắc Giang (cùng thuộc tỉnh Bắc Giang cũ, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh) làm trạm gần nhất để tham chiếu; với Biên Hòa, MEILILE lấy trạm Đồng Phú (Đồng Xoài) làm trạm gần nhất để tham chiếu. Đây là lựa chọn của MEILILE theo nguyên tắc ở mục 2.2.1, chưa đối chiếu khoảng cách với mọi trạm trong bảng A.1, không phải con số quy chuẩn ghi cho Bắc Ninh hay Biên Hòa.
- TP. Hồ Chí Minh: bảng A.1 có trạm Tân Sơn Hòa (kinh độ 106,67, vĩ độ 10,80, cao 5 m), nhưng các bảng A.2 đến A.14 không có dòng nào của trạm này; ở bảng A.2, sau Vũng Tàu là Côn Đảo rồi đến Mộc Hóa. Số liệu cho TP. Hồ Chí Minh vì vậy phải lấy từ một văn bản khác, TCVN 5687:2010, trình bày ở mục nhiệt độ tính toán.
Đọc theo hàng ngang, bảng cho thấy tháng nóng nhất không giống nhau giữa các vùng. Mười trạm có tháng nóng nhất là tháng 7: tám trạm Bắc Bộ (trừ Hiệp Hòa), Thanh Hóa và Vinh. Sáu trạm nóng nhất vào tháng 6: Hiệp Hòa, Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Nha Trang. Phan Thiết và Vũng Tàu nóng nhất vào tháng 5. Bảy trạm còn lại, gồm Buôn Ma Thuột và sáu trạm Nam Bộ (Đồng Xoài, Tây Ninh, Mỹ Tho, Cần Thơ, Cà Mau, Rạch Giá), nóng nhất vào tháng 4, trước mùa mưa. Với nhà xưởng ở phía Nam, “mùa hè” theo nghĩa nóng nhất vì thế rơi vào tháng 4, tháng 5, không phải tháng 6, tháng 7 như miền Bắc.
Đọc bảng: nhiệt độ cao nhất trung bình ngoài trời ở đâu vượt mốc 34, 32 và 30 °C của QCVN 26
QCVN 26:2016/BYT, ban hành kèm Thông tư 26/2016/TT-BYT (hiệu lực từ 01/12/2016; văn bản tại LuatVietnam), quy định nhiệt độ cho phép tại nơi làm việc là 20–34 °C với lao động nhẹ, 18–32 °C với lao động trung bình, 16–30 °C với lao động nặng. Quy chuẩn định nghĩa ba loại lao động theo năng lượng tiêu hao: nhẹ từ 120 đến 150 kcal/giờ, trung bình từ 151 đến 250 kcal/giờ, nặng trên 250 kcal/giờ. Quy chuẩn không áp dụng cho nơi làm việc ngoài trời, công trường xây dựng, hầm mỏ. Cách đo, phân loại vị trí và các bước đưa xưởng về trong giới hạn đã có ở bài tiêu chuẩn nhiệt độ nhà xưởng; bài này chỉ lấy ba mốc trên để đặt cạnh số liệu ngoài trời.
So cột A.3 của bảng với ba mốc đó (MEILILE so bằng chương trình máy tính trên đúng số liệu của bảng):
- Vượt 34 °C (mức trên của lao động nhẹ): 7 trong 25 trạm. Đồng Phú (Đồng Xoài) 35,6 °C và Tây Ninh 35,2 °C vào tháng 4; Huế 34,7 °C, Quảng Ngãi 34,6 °C, Đà Nẵng 34,5 °C vào tháng 6; Vinh 34,3 °C và Quy Nhơn 34,3 °C vào tháng 7. Năm trong bảy trạm này thuộc dải Bắc Trung Bộ và duyên hải Nam Trung Bộ.
- Dưới mốc 34 °C, gần nhất là Cần Thơ: 33,9 °C vào tháng 4.
- Vượt 32 °C (mức trên của lao động trung bình): 24 trong 25 trạm. Chỉ có Bãi Cháy (Quảng Ninh) không vượt, 31,7 °C vào tháng 7.
- Vượt 30 °C (mức trên của lao động nặng): cả 25 trạm.

Đọc kết quả này cần giữ đúng giới hạn của nó. Con số của bảng A.3 là nhiệt độ không khí ngoài trời tại trạm, trong khi mốc của QCVN 26:2016/BYT áp dụng cho không khí tại nơi làm việc; hai con số không thay được cho nhau. Điều bảng cho biết là bối cảnh: ở 24 trong 25 trạm, nhiệt độ cao nhất trong ngày, tính trung bình theo tháng ở tháng cao nhất trong năm, đã vượt mức trên của lao động trung bình ngay ngoài trời. Theo cách MEILILE đọc, một nhà xưởng ở những nơi này mà không có biện pháp làm mát, thông gió hay che nắng nào thì khó giữ nhiệt độ tại vị trí lao động trung bình không vượt 32 °C vào giờ nóng nhất của tháng đó; đây là suy luận, không phải số đo.
QCVN 26:2016/BYT còn một chỉ tiêu nối thẳng hai loại số liệu: “Nhiệt độ chênh lệch trong nơi sản xuất và ngoài trời không vượt quá 5°C”. Tức là quy chuẩn nhìn vào cả mức tuyệt đối trong xưởng lẫn khoảng cách với ngoài trời. Khi đo vi khí hậu, ghi nhiệt độ ngoài trời cùng lúc là việc bắt buộc nếu muốn tính được chỉ tiêu này; số của trạm khí tượng gần nhất cho biết tháng nào nên đo, nhưng không thay được số đo ngoài trời tại chính nhà xưởng.
Mốc 34, 32, 30 °C của QCVN 26:2016/BYT chỉ có một bảng dùng cho cả năm, quy chuẩn không có bảng riêng cho mùa hè. “Mùa hè” trong bài này chỉ là cách gọi tháng nóng nhất của từng trạm.
Độ ẩm mùa hè: miền Bắc tháng nóng nhất và Nam Bộ mùa mưa trên 80%, duyên hải miền Trung khô hơn
QCVN 26:2016/BYT quy định độ ẩm tương đối cho phép tại nơi làm việc là 40–80%, chung cho ba loại lao động. Cột A.10 của bảng chia các trạm thành ba nhóm khá rõ:

- Miền Bắc, tháng 6 và tháng 7: cả chín trạm Bắc Bộ có độ ẩm tháng nóng nhất trên 80%, từ 80,7% (Hà Nội, tháng 7) đến 86,6% (Phù Liễn, tháng 7). Trong tháng 6 hoặc tháng 7, nhiệt độ cao nhất trung bình (bảng A.3) ở tám trạm Bắc Bộ, trừ Bãi Cháy, vượt 32 °C. Nóng và ẩm xảy ra cùng một lúc.
- Bắc Trung Bộ và duyên hải Nam Trung Bộ: các trạm nóng nhất theo bảng A.3 lại khô hơn trong tháng nóng. Độ ẩm tháng 7 ở Vinh là 73,7%, ở Quy Nhơn là 71,7%; tháng 6 ở Huế là 75,4%, Đà Nẵng 76,4%, Quảng Ngãi 78,5%, Nha Trang 77,2%. Thanh Hóa là ngoại lệ trong nhóm, 81,0% vào tháng 7.
- Nam Bộ và Tây Nguyên: vào tháng nóng nhất (tháng 4, tháng 5), độ ẩm chỉ từ 72,8% (Buôn Ma Thuột) đến 79,1% (Vũng Tàu), chưa vượt 80%. Sang tháng 6, tháng 7, độ ẩm của cả bảy trạm Nam Bộ lên 81,7–86,2%, như Cần Thơ 86,0% và 86,2%; khi đó nhiệt độ cao nhất trung bình hạ xuống 30,1–32,8 °C.
Như vậy “mùa hè” ở nhà xưởng phía Nam có hai dạng: tháng 4 nóng nhất nhưng độ ẩm dưới 80%, và mùa mưa bớt nóng hơn nhưng ẩm hơn. Ở miền Bắc, tháng 6, tháng 7 vừa là tháng nóng nhất vừa có độ ẩm trung bình từ 80% trở lên (thấp nhất là Hà Nội tháng 6, 80,0%); hai cột độ ẩm tháng 6 và tháng 7 trong bảng cho thấy mức này ở từng trạm.
Độ ẩm còn liên quan tới tốc độ gió cho phép. Ngay sau bảng giá trị cho phép, QCVN 26:2016/BYT viết: “Đối với điều kiện lao động nóng, độ ẩm cao thì tốc độ chuyển động không khí ở nơi làm việc có thể tăng đến 2 m/s”, thay cho mức trên 1,5 m/s của điều kiện thường. Câu này dùng chữ “nóng, độ ẩm cao” mà không kèm con số, nên vị trí nào thuộc điều kiện này phải xác định bằng số đo vi khí hậu tại chỗ. Số liệu ngoài trời chỉ cho thấy các trạm Bắc Bộ (trừ Bãi Cháy) có nhiệt độ cao nhất trung bình trên 32 °C trong tháng 6 hoặc tháng 7, và độ ẩm trung bình hai tháng này từ 80% trở lên; đó là bối cảnh để biết tình trạng này dễ gặp ở miền Bắc, không phải căn cứ để áp mức 2 m/s cho mọi vị trí. Vì sao độ ẩm ảnh hưởng tới cảm giác mát của gió thuộc về phần độ ẩm trong bài nguyên lý quạt trần HVLS, bài này không nhắc lại.
Bảng A.14: tần suất nóng trên 31, 33, 35 °C, tính bằng phần nghìn số lần quan trắc
Nhiệt độ cao nhất trung bình cho biết một ngày nóng điển hình, nhưng không cho biết cái nóng kéo dài bao lâu. Bảng A.14 trả lời câu đó theo cách khác: với mỗi trạm, nó chia toàn bộ các lần quan trắc trong năm theo cấp nhiệt độ và cấp độ ẩm, rồi ghi tần suất của từng ô bằng phần nghìn (‰). Cộng các ô của cấp “> 31; ≤ 33” trở lên ta được tần suất (phần nghìn số lần quan trắc) nhiệt độ trên 31 °C; cộng từ cấp “> 33; ≤ 35” trở lên được tần suất trên 33 °C; cộng từ cấp “> 35; ≤ 37” trở lên được tần suất trên 35 °C. Ranh giới cấp của bảng là số lẻ (31, 33, 35), nên không cắt đúng vào 30, 32, 34 °C của QCVN 26:2016/BYT; MEILILE giữ nguyên ranh giới của bảng, không nội suy.
Bảng A.14 chỉ có 54 trạm. Trong 25 trạm của bài, bảng có số liệu cho 21 trạm (không có Hiệp Hòa, Bãi Cháy, Thanh Hóa, Đồng Phú), và bài dùng 20 trạm. Trạm Cà Mau bị loại vì số liệu tự mâu thuẫn: bảng A.14 ghi tần suất trên 33 °C của Cà Mau là 119,3 ‰, trong khi nhiệt độ cao nhất trung bình lớn nhất trong năm của chính trạm này (bảng A.3) chỉ 33,4 °C, và hai trạm lân cận Cần Thơ, Sóc Trăng chỉ có 1,0–1,4 ‰ ở cấp đó. MEILILE không biết sai ở khâu nào, nên không dùng ô này.

| Trạm | Tỉnh (sau sắp xếp) | Trên 31 °C | Trên 33 °C | Trên 35 °C | Ước lượng giờ/năm trên 33 °C |
|---|---|---|---|---|---|
| Vinh | Nghệ An | 67,3 ‰ | 28,9 ‰ | 8,7 ‰ | khoảng 253 giờ |
| Quảng Ngãi | Quảng Ngãi | 74,6 ‰ | 23,6 ‰ | 2,5 ‰ | khoảng 207 giờ |
| Huế | Huế | 67,9 ‰ | 22,0 ‰ | 2,5 ‰ | khoảng 193 giờ |
| Vĩnh Yên | Phú Thọ | 56,3 ‰ | 18,2 ‰ | 4,0 ‰ | khoảng 159 giờ |
| Đà Nẵng | Đà Nẵng | 54,1 ‰ | 15,7 ‰ | 1,9 ‰ | khoảng 138 giờ |
| Hà Nội (Láng) | Hà Nội | 50,4 ‰ | 15,1 ‰ | 3,5 ‰ | khoảng 132 giờ |
| Tây Ninh | Tây Ninh | 69,6 ‰ | 12,6 ‰ | 0,8 ‰ | khoảng 110 giờ |
| Quy Nhơn | Gia Lai | 38,5 ‰ | 10,8 ‰ | 1,0 ‰ | khoảng 95 giờ |
| Nam Định | Ninh Bình | 37,9 ‰ | 10,2 ‰ | 1,6 ‰ | khoảng 89 giờ |
| Hải Dương | Hải Phòng | 34,6 ‰ | 9,4 ‰ | 1,4 ‰ | khoảng 82 giờ |
| Bắc Giang | Bắc Ninh | 38,5 ‰ | 8,6 ‰ | 1,2 ‰ | khoảng 75 giờ |
| Thái Nguyên | Thái Nguyên | 35,6 ‰ | 7,9 ‰ | 1,2 ‰ | khoảng 69 giờ |
| Mỹ Tho | Đồng Tháp | 30,6 ‰ | 3,1 ‰ | 0,0 ‰ | khoảng 27 giờ |
| Phù Liễn | Hải Phòng | 16,5 ‰ | 3,0 ‰ | 0,4 ‰ | khoảng 26 giờ |
| Buôn Ma Thuột | Đắk Lắk | 10,8 ‰ | 1,3 ‰ | 0,0 ‰ | khoảng 11 giờ |
| Cần Thơ | Cần Thơ | 27,3 ‰ | 1,0 ‰ | 0,0 ‰ | khoảng 9 giờ |
| Phan Thiết | Lâm Đồng | 11,0 ‰ | 0,6 ‰ | 0,0 ‰ | khoảng 5 giờ |
| Nha Trang | Khánh Hòa | 11,4 ‰ | 0,4 ‰ | 0,0 ‰ | khoảng 4 giờ |
| Rạch Giá | An Giang | 8,4 ‰ | 0,2 ‰ | 0,0 ‰ | khoảng 2 giờ |
| Vũng Tàu | TP. Hồ Chí Minh | 6,2 ‰ | 0,1 ‰ | 0,0 ‰ | khoảng 1 giờ |
Những trạm có tần suất trên 33 °C cao nhất là Vinh 28,9 ‰, Quảng Ngãi 23,6 ‰, Huế 22,0 ‰, cùng nhóm với các trạm có nhiệt độ cao nhất trung bình vượt 34 °C ở mục trước; ở miền Bắc, Vĩnh Yên 18,2 ‰ và Hà Nội (Láng) 15,1 ‰, xấp xỉ Đà Nẵng 15,7 ‰. Nam Bộ thì ngược lại: tháng 4 rất nóng nhưng số lần trên 33 °C ít hơn nhiều: Tây Ninh 12,6 ‰, Mỹ Tho 3,1 ‰, Cần Thơ 1,0 ‰. Tây Ninh có tần suất trên 31 °C là 69,6 ‰, cao hơn Hà Nội (Láng) 50,4 ‰, nhưng trên 35 °C chỉ 0,8 ‰: cái nóng ở đây kéo dài nhưng ít khi lên rất cao.
Có thể đổi phần nghìn ra số giờ trong năm không? Nhân với 8,76 (một năm 8.760 giờ, chia 1000) sẽ ra một con số giờ, ví dụ Vinh khoảng 253 giờ mỗi năm trên 33 °C, Hà Nội (Láng) khoảng 132 giờ, Cần Thơ khoảng 9 giờ. Nhưng phép đổi này giả định các lần quan trắc phân bố đều theo thời gian trong năm, còn văn bản không ghi tần suất quan trắc; vì vậy MEILILE coi số giờ chỉ là ước lượng để hình dung, không phải số liệu của quy chuẩn, và cột quy đổi trong bảng trên ghi rõ như vậy.
QCVN 02:2022/BXD và QCVN 26:2016/BYT: đối chiếu từng mục
Hai quy chuẩn hay bị gọi chung là “tiêu chuẩn nhiệt độ”, nhưng chúng trả lời hai câu hỏi khác nhau và do hai bộ khác nhau ban hành. Bảng dưới đặt chúng cạnh nhau theo từng mục; nội dung lấy từ văn bản gốc của hai quy chuẩn.

| Mục | QCVN 02:2022/BXD | QCVN 26:2016/BYT |
|---|---|---|
| Văn bản ban hành | Thông tư 02/2022/TT-BXD, Bộ Xây dựng, ký 26/9/2022 | Thông tư 26/2016/TT-BYT, Bộ Y tế, ký 30/6/2016 |
| Hiệu lực | Sau 06 tháng kể từ ngày ban hành (26/3/2023); thay QCVN 02:2009/BXD | Từ 01/12/2016 |
| Số liệu ở đâu | Trạm khí tượng, ngoài trời; 152 dòng trạm trong mỗi bảng từ A.2 đến A.10 | Nơi làm việc; không áp dụng nơi làm việc ngoài trời, công trường xây dựng, hầm mỏ |
| Nhiệt độ | Số thống kê: trung bình tháng (A.2), cao nhất trung bình tháng (A.3), cao nhất tuyệt đối (A.5) | Giới hạn cho phép: 20–34 °C (nhẹ), 18–32 °C (trung bình), 16–30 °C (nặng) |
| Độ ẩm | Độ ẩm tương đối trung bình tháng (A.10); tần suất cấp nhiệt ẩm (A.14) | 40–80% cho cả ba loại lao động |
| Gió | Có bảng hướng gió (A.16); bài này không dùng | 0,1–1,5 m/s (nhẹ), 0,2–1,5 m/s (trung bình), 0,3–1,5 m/s (nặng); điều kiện nóng, độ ẩm cao có thể tăng đến 2 m/s |
| Theo mùa | Theo từng tháng, 1 đến 12, và cả năm | Một bảng cho cả năm, không chia mùa |
| Chỉ tiêu nối với ngoài trời | Không có | Chênh lệch trong nơi sản xuất và ngoài trời không quá 5 °C |
| Dùng để làm gì | Số liệu đầu vào cho thiết kế công trình; lấy trạm gần địa điểm xây dựng nhất (mục 2.2.1) | Giới hạn để quan trắc, đánh giá nơi làm việc; đo kiểm tra tối thiểu 1 lần/năm, phương pháp theo TCVN 5508:2009 |
QCVN 02:2022/BXD trả lời “khí hậu ngoài trời ở đây thế nào”, hữu ích khi chọn tháng đo, ước lượng mức độ khó của bài toán làm mát và làm hồ sơ thiết kế. QCVN 26:2016/BYT trả lời “không khí tại vị trí làm việc có đạt không”, chỉ trả lời được bằng số đo trong xưởng. Ngoài các mức ở bảng, QCVN 26:2016/BYT còn giới hạn chênh lệch nhiệt độ theo độ cao vị trí làm việc không quá 3 °C, chênh lệch theo chiều ngang không quá 4, 5, 6 °C với lao động nhẹ, trung bình, nặng, và có bảng 2 giới hạn theo nhiệt độ cầu ướt WBGT: khi tiếp xúc liên tục với nguồn nhiệt, giới hạn là 30,0 °C, 26,7 °C và 25,0 °C cho ba loại lao động.
Nhiệt độ tính toán thông gió không phải nhiệt độ cao nhất tuyệt đối: TCVN 5687 nói gì
Vì QCVN 02:2022/BXD không có nhiệt độ tính toán mùa hè, người thiết kế thông gió dựa vào tiêu chuẩn thông gió, điều hòa không khí TCVN 5687. Bản TCVN 5687:2010 (toàn văn tại Luật Minh Khuê; bản này đã được thay bằng TCVN 5687:2024) viết ở điều 4.2.1 rằng thông số tính toán bên ngoài cho thông gió tự nhiên và thông gió cơ khí “là nhiệt độ cao nhất trung bình của tháng nóng nhất về mùa hè”, và dẫn nguồn bảng 2.3, 2.4 của QCXDVN 02:2008. Theo cách MEILILE đối chiếu tên bảng, đó là cùng loại số với bảng A.3 (cao nhất trung bình tháng) của QCVN 02:2022/BXD, không phải bảng A.5 (cao nhất tuyệt đối). Điều 4.1.2 viết tiếp: “về mùa hè nhiệt độ tính toán của không khí bên trong phòng không được vượt quá 3 °C so với nhiệt độ cao nhất trung bình ngoài trời của tháng nóng nhất”.

Với điều hòa không khí, điều 4.2.2 cho chọn thông số tính toán ngoài trời theo số giờ m “cho phép không đảm bảo” trong năm, chia ba cấp: cấp I với m = 35 giờ/năm, cấp II với m = 150–200 giờ/năm (dùng cho công sở, cửa hàng và nhà công nghiệp), cấp III với m = 350–400 giờ/năm cho nhà công nghiệp không đòi hỏi cao về nhiệt ẩm. Nói cách khác, nhiệt độ thiết kế là một con số được phép bị vượt một số giờ mỗi năm, còn nhiệt độ cao nhất tuyệt đối là mức kỷ lục của cả chuỗi quan trắc. Phụ lục C của TCVN 5687:2010 dẫn cách tính của ASHRAE theo cùng ý: các mức 0,4%, 1%, 2% thời gian trong năm (tương ứng 35, 88, 175 giờ mỗi năm) có nhiệt độ bằng hoặc cao hơn giá trị chọn cho mùa hè.
Phụ lục B của TCVN 5687:2010 là nơi có số liệu cho TP. Hồ Chí Minh, thứ mà QCVN 02:2022/BXD thiếu. Văn bản ghi số liệu dựa trên 24 ốp đo mỗi ngày trong 20 năm, từ 1983 đến 2002. Nhiệt độ khô (nhiệt độ bầu khô, tức nhiệt độ không khí) mùa hè: với m = 0 (không có giờ nào không đảm bảo, tức mức cao nhất quan trắc được) là 38,0 °C, độ ẩm 67,0%; với m = 35 giờ là 36,8 °C; với m = 150 giờ là 36,1 °C; với m = 200 giờ là 36,0 °C. Cùng một thành phố, khoảng cách giữa mức cao nhất quan trắc được và mức thiết kế cấp II (m = 150–200 giờ) là 1,9–2,0 °C. MEILILE chưa kiểm chứng được TCVN 5687:2024 còn giữ bảng này hay không.
Ở 25 trạm của QCVN 02:2022/BXD, khoảng cách giữa nhiệt độ cao nhất tuyệt đối (A.5) và nhiệt độ cao nhất trung bình lớn nhất trong năm (A.3) dao động từ 4,3 °C (Vũng Tàu) đến 8,4 °C (Hà Nội: 41,8 °C so với 33,4 °C). 15 trong 25 trạm có mức cao nhất tuyệt đối từ 40 °C trở lên, 13 trạm ở miền Bắc và miền Trung, 2 trạm ở phía Nam (Đồng Phú và Cần Thơ). Vì vậy khi gặp con số “38–40 °C” trong một mô tả khí hậu, hãy hỏi nó thuộc loại nào: theo cách MEILILE đọc các bảng trên, dải đó gần với mức cao nhất tuyệt đối của bảng A.5 hơn là mức nóng điển hình của bảng A.3, và không phải nhiệt độ tính toán theo TCVN 5687. Số liệu thiết kế, số trung bình tháng và nhiệt độ cao nhất tuyệt đối là ba con số khác nhau.
Đặt điều 4.1.2 cạnh QCVN 26:2016/BYT: lấy nhiệt độ cao nhất trung bình lớn nhất trong năm của từng trạm cộng 3 °C, mức thấp nhất trong 25 trạm là 34,7 °C (Bãi Cháy), cao nhất 38,6 °C (Đồng Phú); tất cả đều trên 34 °C, mức trên của lao động nhẹ. Theo cách MEILILE đặt hai văn bản cạnh nhau, một nhà xưởng thông gió đạt yêu cầu tính toán của TCVN 5687:2010 vẫn có thể vượt mức cho phép của QCVN 26:2016/BYT vào những giờ nóng nhất; đây là suy luận của MEILILE, không văn bản chính thức nào viết như vậy. Bản TCVN 5687:2024, theo bài giới thiệu của Sở Khoa học và Công nghệ Cần Thơ, vẫn giữ quy định mùa nóng nhiệt độ tính toán trong phòng không vượt quá 3 °C so với nhiệt độ cao nhất trung bình ngoài trời của tháng nóng nhất. Theo bài giới thiệu, tiêu chuẩn áp dụng cho nhà dân dụng; nhà công nghiệp “có thể áp dụng”, nhưng tiêu chuẩn không áp dụng cho “nhà sản xuất có áp dụng quy trình công nghệ”.
Số liệu khí hậu này có ý nghĩa gì khi chọn quạt cho nhà xưởng
Quạt công nghiệp không hạ nhiệt độ không khí đo bằng nhiệt kế, cũng không đổi được chênh lệch giữa trong xưởng và ngoài trời, như bài tiêu chuẩn nhiệt độ nhà xưởng đã phân tích. Nếu số đo cho thấy nhiệt độ không khí tại vị trí làm việc vượt mốc, phần việc đó thuộc về thông gió xả nhiệt, cách nhiệt mái, che chắn nguồn nhiệt, làm mát bay hơi hoặc điều hòa. Thứ quạt thay đổi là tốc độ gió tại chỗ người làm, và qua đó là cảm giác nóng của người: trong công cụ chọn quạt của MEILILE, mốc quy đổi là gió 0,5 m/s tương ứng cảm giác mát khoảng 2 °C, tăng theo tốc độ gió (cách tính ở bài quạt làm mát nhà xưởng).

Giới hạn trên của gió cũng nằm trong QCVN 26:2016/BYT: 1,5 m/s tại vị trí làm việc, có thể tăng đến 2 m/s trong điều kiện lao động nóng, độ ẩm cao; mức dưới là 0,1, 0,2, 0,3 m/s với lao động nhẹ, trung bình, nặng. MEILILE chốt mức chạy của quạt bằng số đo gió tại chỗ người đứng, trong khoảng đó. Đặt cạnh bảng khí hậu, MEILILE đọc ra ba tình huống điển hình (đề xuất của MEILILE, không phải điều khoản quy chuẩn):
- Bắc Bộ, tháng 6 và tháng 7: ngoài trời nóng và ẩm cùng lúc. QCVN 26:2016/BYT chỉ cho tăng gió đến 2 m/s với “điều kiện lao động nóng, độ ẩm cao” và không ghi ngưỡng số; vì vậy chỉ những vị trí mà số đo tại chỗ xác nhận là điều kiện đó mới dùng mức 2 m/s, các vị trí khác giữ trong 1,5 m/s. Đo lại vào chính tháng 6, tháng 7.
- Bắc Trung Bộ và duyên hải Nam Trung Bộ: độ ẩm tháng 6, tháng 7 ở sáu trạm từ Vinh đến Nha Trang chỉ 71,7–78,7%, nhưng nhiệt độ cao nhất trung bình ngoài trời đã vượt cả mức trên 34 °C của lao động nhẹ ở năm trạm (Vinh, Huế, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Quy Nhơn; Thanh Hóa 33,2 °C, Nha Trang 32,7 °C, Phan Thiết 32,6 °C thì chưa). Vì vậy ngoài quạt cần xem cả cách nhiệt mái và thông gió xả nhiệt; gió giữ trong 1,5 m/s.
- Nam Bộ: đo và chốt mức chạy vào tháng 4 khi nóng nhất, rồi kiểm tra lại vào mùa mưa khi độ ẩm ngoài trời lên trên 80%. Với lao động nặng, nhiệt độ cao nhất trung bình ngoài trời đã vượt mức trên 30 °C ở cả bảy trạm Nam Bộ, kể cả tháng 6, tháng 7 của mùa mưa (30,1–32,8 °C).
Về thiết bị, MEILILE có hai dòng. Quạt trần HVLS dòng DF, từ DF-30 đến DF-73 (đường kính cánh 3,0–7,3 m), dùng động cơ PMSM, điều tốc vô cấp, chỉnh tần số liên tục qua tủ biến tần; nhờ vậy mức gió tại chỗ người làm có thể chỉnh về đúng khoảng của quy chuẩn. Chọn model và số lượng sơ bộ bằng công cụ chọn quạt trần HVLS; thông số và cách bố trí có ở trang quạt trần công nghiệp.
Quạt di động dòng YF dùng cho điểm nóng cục bộ: Type A trống lăn trên bánh xe khóa, Type B đứng chỉnh góc, cả hai kiểu đều có ba cỡ YF-900, YF-1200, YF-1500; bộ điều khiển có 10 cấp tốc độ cài sẵn. Cự ly thổi (tính tới chỗ gió còn 0,5 m/s) là 15 m với YF-900, 25 m với YF-1200, 35 m với YF-1500; cự ly mát bằng 0,6 lần cự ly thổi, là khoảng cách mà gió còn từ 1,5 m/s trở lên. Vị trí làm việc cố định nằm trong khoảng từ cự ly mát tới cự ly thổi sẽ có gió trong khoảng 0,5–1,5 m/s theo giá trị tham khảo này; gần quạt hơn cự ly mát thì chỉnh góc hoặc lùi quạt để luồng trực diện không rơi thẳng vào chỗ người ngồi cố định. YF-1800 (cự ly thổi 50 m) chỉ có Type A và nhận theo đơn đặt hàng. Chọn model và cách đặt bằng công cụ chọn quạt di động YF. Diện tích phủ trong hai công cụ là giá trị tham khảo kỹ thuật của MEILILE, số lượng quạt thực tế do khảo sát hiện trường quyết định.
Cuối cùng là thời điểm đo. QCVN 26:2016/BYT yêu cầu đo kiểm tra vi khí hậu nơi làm việc tối thiểu 1 lần/năm. Quy chuẩn không chỉ định tháng đo; MEILILE đề xuất chọn tháng nóng nhất của trạm gần nhất trong bảng ở trên (tháng 6 hoặc 7 với miền Bắc và phần lớn miền Trung, tháng 4 hoặc 5 với phía Nam, Tây Nguyên và Phan Thiết), vì đó là tháng nhiệt độ ngoài trời cao nhất trong năm theo bảng A.2; với phía Nam, nên đo thêm một lần trong mùa mưa, khi độ ẩm ngoài trời trên 80%.
Sáp nhập tỉnh 2025: tra trạm khí tượng theo tên tỉnh mới
Các bảng của QCVN 02:2022/BXD vẫn ghi theo tỉnh trước khi sắp xếp. Nghị quyết 202/2025/QH15 về sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh được Quốc hội thông qua ngày 12/6/2025 và “có hiệu lực thi hành từ ngày được thông qua”; các tỉnh mới bắt đầu hoạt động từ ngày 01/7/2025, cả nước còn 34 đơn vị hành chính cấp tỉnh, gồm 28 tỉnh và 6 thành phố (toàn văn trên Cổng thông tin điện tử Chính phủ và Cổng thông tin Mặt trận Tổ quốc Việt Nam).

Về quy chuẩn, Bộ Xây dựng có văn bản 6056/BXD-KHCNMT&VLXD ngày 30/6/2025: tiếp tục áp dụng QCVN 02:2022/BXD “trên cơ sở tham chiếu địa danh liên quan đến đơn vị hành chính trước và sau khi sắp xếp”, cho đến khi ban hành Sửa đổi 1; kế hoạch khi đó là “dự kiến ban hành Sửa đổi 1 trong Quý IV năm 2025” (tin của Bộ Xây dựng). Đến ngày 06/10/2026, MEILILE chỉ tìm thấy thuyết minh dự thảo Sửa đổi 1 trên trang tcvn.gov.vn; thuyết minh cho biết phần sửa Chương 2 “chủ yếu rà soát và cập nhật theo địa danh hành chính mới”, chưa thấy văn bản ban hành chính thức. Cách tra trong lúc chờ: tìm tỉnh mới của bạn trong danh sách dưới, lấy trạm tương ứng ở bảng 25 trạm.
- Bắc Ninh: Bắc Giang, Hiệp Hòa (thuộc Bắc Giang cũ; Bắc Ninh cũ không có trạm).
- Hải Phòng: Phù Liễn (Hải Phòng cũ), Hải Dương (Hải Dương cũ).
- Phú Thọ: Vĩnh Yên (Vĩnh Phúc cũ).
- Ninh Bình: Nam Định (Nam Định cũ).
- Đà Nẵng: Đà Nẵng (Đà Nẵng cũ, nay gồm cả Quảng Nam).
- Quảng Ngãi: Quảng Ngãi (Quảng Ngãi cũ, nay gồm cả Kon Tum).
- Gia Lai: Quy Nhơn (Bình Định cũ).
- Khánh Hòa: Nha Trang (Khánh Hòa cũ, nay gồm cả Ninh Thuận).
- Lâm Đồng: Phan Thiết (Bình Thuận cũ).
- Đắk Lắk: Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk cũ, nay gồm cả Phú Yên).
- Đồng Nai: Đồng Phú (Đồng Xoài, Bình Phước cũ); Biên Hòa không có trạm, MEILILE lấy trạm này làm trạm gần nhất để tham chiếu.
- Tây Ninh: Tây Ninh (Tây Ninh cũ, nay gồm cả Long An).
- TP. Hồ Chí Minh: Vũng Tàu (Bà Rịa - Vũng Tàu cũ); trạm Tân Sơn Hòa không có số liệu trong các bảng từ A.2 đến A.14, xem TCVN 5687:2010.
- Đồng Tháp: Mỹ Tho (Tiền Giang cũ).
- Cần Thơ: Cần Thơ (Cần Thơ cũ, nay gồm cả Sóc Trăng, Hậu Giang).
- Cà Mau: Cà Mau (Cà Mau cũ, nay gồm cả Bạc Liêu).
- An Giang: Rạch Giá (Kiên Giang cũ).
- Thái Nguyên: Thái Nguyên (Thái Nguyên cũ).
- Không sắp xếp, giữ nguyên đơn vị hành chính cấp tỉnh: Hà Nội, Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An, Huế (Thừa Thiên Huế cũ); trạm tương ứng là Hà Nội, Bãi Cháy, Thanh Hóa, Vinh, Huế.
- Không có trạm trong bảng A.1: Bình Dương; bài này không gán trạm thay thế cho tỉnh cũ này.
Những điều bảng số liệu này không cho biết: năm giới hạn cần biết trước khi dùng
- Không ghi giai đoạn thống kê. Các bảng A.2 đến A.14 không ghi số liệu được thống kê từ năm nào đến năm nào; trong văn bản, MEILILE chỉ tìm thấy giai đoạn năm ở bảng bão. Vì vậy không thể gán cho các số trong bảng một giai đoạn thống kê cụ thể nào.
- Số của trạm, không phải của nhà xưởng. Trạm khí tượng đo ngoài trời ở một điểm. Một nhà xưởng cách trạm vài chục kilômét, ở độ cao hay địa hình khác, có thể khác; chính mục 2.2.1 yêu cầu tham khảo thêm số liệu thực tế tại nơi xây dựng khi địa hình khác biệt nhiều. Còn nhiệt độ trong xưởng phải đo trong xưởng.
- Một số tỉnh không có trạm, một số trạm thiếu số liệu. Bắc Ninh, Biên Hòa, Bình Dương không có trạm trong bảng A.1; trạm gần nhất dùng để tham chiếu trong bài là lựa chọn của MEILILE. TP. Hồ Chí Minh có trạm trong bảng A.1 nhưng không có số liệu ở các bảng A.2 đến A.14; số cho thành phố trong bài lấy từ TCVN 5687:2010, một văn bản khác, đã được thay bằng bản 2024.
- Một ô số liệu tự mâu thuẫn. Bảng A.14 của trạm Cà Mau không khớp với bảng A.3 và A.5 của chính trạm đó, nên bài không dùng.
- Quy chuẩn đang chờ sửa đổi. Sửa đổi 1 của QCVN 02:2022/BXD, chủ yếu để cập nhật địa danh, đến 06/10/2026 vẫn ở dạng dự thảo. Khi bản chính thức ban hành, tên trạm và tên tỉnh trong bảng có thể đổi; MEILILE sẽ đối chiếu lại các con số của bài khi đọc được bản chính thức.
Câu hỏi thường gặp về nhiệt độ, độ ẩm mùa hè các tỉnh và nhà xưởng
Nhiệt độ trung bình các tỉnh Việt Nam vào tháng nóng nhất là bao nhiêu?
Theo bảng A.2 của QCVN 02:2022/BXD, nhiệt độ trung bình của tháng nóng nhất ở 25 trạm MEILILE tổng hợp nằm trong khoảng 26,1 °C (Buôn Ma Thuột, tháng 4) đến 30,0 °C (Quy Nhơn, tháng 6). Đây là trung bình của cả tháng, nên thấp hơn nhiều so với cái nóng ban ngày: nhiệt độ cao nhất trung bình (bảng A.3) của tháng nóng nhất ở các trạm này là 31,7–35,6 °C. Miền Bắc và Bắc Trung Bộ nóng nhất vào tháng 6, tháng 7; phần lớn trạm Nam Bộ nóng nhất vào tháng 4.
Tỉnh nào ở Việt Nam nóng nhất vào mùa hè, theo QCVN 02:2022/BXD?
Trong 25 trạm MEILILE tổng hợp (không phải toàn bộ 152 trạm của quy chuẩn), xét nhiệt độ cao nhất trung bình tháng, lấy tháng cao nhất trong năm (bảng A.3), cao nhất là trạm Đồng Phú (Đồng Xoài) ở tỉnh Đồng Nai mới (Bình Phước cũ) 35,6 °C và trạm Tây Ninh 35,2 °C, đều vào tháng 4; tiếp theo là Huế 34,7 °C, Quảng Ngãi 34,6 °C, Đà Nẵng 34,5 °C, Vinh và Quy Nhơn 34,3 °C. Xét nhiệt độ cao nhất tuyệt đối (bảng A.5), cao nhất là Hà Nội 41,8 °C, rồi Vĩnh Yên 41,4 °C và Huế 41,3 °C. Hai cách xếp cho ra hai danh sách khác nhau, vì một bên là mức nóng điển hình, một bên là giá trị cao nhất ghi nhận trong chuỗi số liệu của bảng (văn bản không ghi giai đoạn).
Nhiệt độ trong QCVN 02:2022/BXD có phải nhiệt độ trong nhà xưởng không?
Không. Đây là số liệu của trạm khí tượng, đo ngoài trời, do Viện Khoa học khí tượng thủy văn và biến đổi khí hậu cung cấp (mục 1.5.1 của quy chuẩn). Nhiệt độ trong xưởng phụ thuộc mái, thông gió và nguồn nhiệt của từng xưởng, và phải đo tại vị trí làm việc theo QCVN 26:2016/BYT. Quy chuẩn này còn giới hạn chênh lệch nhiệt độ giữa trong nơi sản xuất và ngoài trời không quá 5 °C, nên khi đo vi khí hậu cần ghi nhiệt độ ngoài trời cùng lúc.
QCVN 02:2022/BXD có nhiệt độ thiết kế mùa hè không?
Không. Quy chuẩn chỉ cho số liệu thống kê của trạm khí tượng; mục giải thích từ ngữ không có thuật ngữ nào về nhiệt độ tính toán. Nhiệt độ tính toán cho thông gió nằm ở TCVN 5687: bản 2010 lấy nhiệt độ cao nhất trung bình của tháng nóng nhất về mùa hè (cùng loại số với bảng A.3, theo đối chiếu tên bảng của MEILILE) cho thông gió tự nhiên và thông gió cơ khí, và chọn thông số điều hòa không khí theo số giờ cho phép không đảm bảo trong năm (35, 150–200 hoặc 350–400 giờ tùy cấp). Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối không phải nhiệt độ thiết kế.
Bắc Ninh, Bình Dương, TP. Hồ Chí Minh tra số liệu khí hậu ở đâu?
Bảng A.1 của QCVN 02:2022/BXD không có trạm ở Bắc Ninh, Biên Hòa hay Bình Dương; mục 2.2.1 yêu cầu lấy số liệu của trạm gần địa điểm xây dựng nhất. Với Bắc Ninh cũ, MEILILE lấy hai trạm Hiệp Hòa và Bắc Giang làm trạm gần nhất để tham chiếu; đây là lựa chọn của MEILILE, bài này không gán trạm thay thế cho Bình Dương. Với Bình Dương, cách tra theo mục 2.2.1 là tìm trạm gần địa điểm xây dựng nhất trong bảng A.1 của văn bản gốc. TP. Hồ Chí Minh có trạm Tân Sơn Hòa trong bảng A.1 nhưng không có số liệu ở các bảng A.2 đến A.14; số liệu cho thành phố có ở phụ lục B của TCVN 5687:2010 (quan trắc 1983–2002; bản 2010 đã được thay bằng TCVN 5687:2024, MEILILE chưa kiểm chứng bản mới còn giữ bảng này), ví dụ nhiệt độ khô mùa hè 36,1 °C với 150 giờ không đảm bảo, và 38,0 °C là mức cao nhất quan trắc được trong giai đoạn đó.
Sau khi sáp nhập tỉnh, QCVN 02:2022/BXD còn dùng được không?
Còn. Văn bản 6056/BXD-KHCNMT&VLXD ngày 30/6/2025 của Bộ Xây dựng cho tiếp tục áp dụng QCVN 02:2022/BXD trên cơ sở tham chiếu địa danh trước và sau khi sắp xếp, cho đến khi ban hành Sửa đổi 1. Đến 06/10/2026, MEILILE chỉ thấy thuyết minh dự thảo Sửa đổi 1, với phần sửa Chương 2 chủ yếu cập nhật theo địa danh hành chính mới. Cách tra: tìm tỉnh mới, lấy trạm thuộc tỉnh cũ tương ứng; ví dụ tỉnh Bắc Ninh mới có trạm Bắc Giang và Hiệp Hòa (thuộc Bắc Giang cũ), tỉnh Đồng Nai mới có trạm Đồng Phú (Đồng Xoài).
Quạt công nghiệp có làm giảm nhiệt độ nhà xưởng mùa hè không?
Không, nếu hiểu là nhiệt độ không khí đo bằng nhiệt kế. Quạt tăng tốc độ gió tại chỗ người làm và làm giảm cảm giác nóng. Trong công cụ chọn quạt của MEILILE, gió 0,5 m/s tương ứng cảm giác mát khoảng 2 °C, tăng theo tốc độ gió. QCVN 26:2016/BYT giới hạn gió tại vị trí làm việc ở 1,5 m/s, có thể tăng đến 2 m/s khi lao động nóng, độ ẩm cao. Khi nhiệt độ không khí tại chỗ làm vượt mốc cho phép, cần thêm thông gió xả nhiệt, cách nhiệt mái, che chắn nguồn nhiệt hoặc làm mát; phần gió tại chỗ người làm là việc của quạt.
Chuẩn bị gì trước khi hỏi phương án làm mát cho nhà xưởng?
- Vị trí nhà xưởng và trạm tham chiếu: tỉnh, khu công nghiệp, và trạm gần nhất trong bảng ở trên; ghi lại tháng nóng nhất, nhiệt độ cao nhất trung bình (A.3) và độ ẩm tháng đó (A.10).
- Số đo vi khí hậu gần nhất: nếu xưởng đã đo theo QCVN 26:2016/BYT, gửi biên bản (nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió tại từng vị trí, nhiệt độ ngoài trời lúc đo); nếu chưa, đo vào tháng nóng nhất của trạm tham chiếu.
- Loại lao động theo khu: khu nào lao động nhẹ, trung bình, nặng; mốc nhiệt độ và tốc độ gió tối thiểu khác nhau theo từng loại.
- Mặt bằng và chiều cao: dài, rộng, chiều cao tới điểm treo; nhập vào công cụ chọn quạt trần HVLS để có model và số quạt sơ bộ.
Bài viết liên quan: Tiêu chuẩn nhiệt độ nhà xưởng theo QCVN 26:2016/BYT · Nguyên lý làm mát của quạt trần HVLS · Quạt làm mát nhà xưởng · Quạt trần công nghiệp đảo chiều · Quạt trần công nghiệp · Quạt di động YF
