Không phải model quạt trần công nghiệp DF nào cũng chạy 380 V: DF-73 (1,6 kW) và DF-65 (1,5 kW) chỉ có bản 380 V nguồn 3 pha, DF-60 và DF-55 (1,3 kW) có cả bản 380 V và 220 V, còn DF-50 trở xuống chỉ có bản 220 V nguồn 1 pha. Vì vậy cấp điện cho một dãy quạt bắt đầu bằng việc tách quạt 380 V và quạt 220 V. Quạt 220 V chia đều lên L1, L2, L3, ví dụ 12 chiếc DF-45 thì mỗi pha 4 chiếc; mỗi quạt một CB riêng trước tủ biến tần; CB nhánh chọn theo Ib ≤ In ≤ Iz; dây chọn theo khả năng mang dòng rồi kiểm tra sụt áp; vỏ tủ và khung quạt nối vào hệ tiếp địa. Phần điện do thợ điện có chứng chỉ thực hiện.
Không phải model nào cũng chạy 380 V: trong 9 model quạt trần công nghiệp DF của MEILILE, chỉ DF-73 và DF-65 bắt buộc nguồn 3 pha 380 V, DF-60 và DF-55 chọn được 380 V hoặc 220 V, còn DF-50, DF-45, DF-40, DF-35 và DF-30 chạy 220 V một pha. Một dãy 12 chiếc DF-45 (0,5 kW mỗi chiếc, tổng 6 kW) vì thế không cần cáp 3 pha tới từng quạt, nhưng phải chia 4 chiếc mỗi pha để tủ điện không lệch tải. Bài này đi qua cách chia pha, chọn CB, tra dây, tiếp địa và đo bàn giao cho cả dãy.
Model nào 220 V, model nào 380 V: bảng điện áp và số pha của 9 quạt DF
Mỗi quạt trần DF chạy qua một tủ biến tần riêng, và tủ biến tần là thứ nhận điện từ lưới, không phải động cơ. Theo sơ đồ nối dây trong hướng dẫn lắp đặt đi kèm quạt, bản 220 V dùng tủ có hai cực nguồn vào 1 pha (L, N), bản 380 V dùng tủ có ba cực nguồn vào 3 pha (L1, L2, L3); cả hai loại đều ra ba pha U, V, W tới động cơ và đều có cực tiếp địa riêng. Hướng dẫn cũng ghi rõ cực nguồn vào tương ứng L1, L2, L3 hay L, N tùy loại tủ biến tần đi kèm, nên điện áp phải chốt ngay khi đặt hàng, không đổi tùy ý sau khi đã giao.

Bảng dưới lấy công suất, điện áp và dòng đầy tải từ bảng thông số của MEILILE. Bảng thông số chưa ghi rõ dòng này đo ở phía nào và ở điện áp nào cho từng model; chọn CB theo dòng đầu vào ghi trên nhãn tủ biến tần.
| Model | Đường kính | Công suất danh định | Điện áp | Nguồn vào tủ biến tần | Dòng đầy tải theo bảng thông số MEILILE |
|---|---|---|---|---|---|
| DF-73 | 7,3 m | 1,6 kW | 380 V | 3 pha (L1, L2, L3 + PE) | 3,0 A |
| DF-65 | 6,5 m | 1,5 kW | 380 V | 3 pha (L1, L2, L3 + PE) | 3,3 A |
| DF-60 | 6,0 m | 1,3 kW | 380 V hoặc 220 V | 3 pha hoặc 1 pha, chốt khi đặt hàng | 3,3 A (bản 380 V). Bản 220 V: bảng thông số chưa có số riêng cho bản 220 V; ước tính sơ bộ phía nguồn vào khoảng 7 A (giả định hiệu suất và cosφ tương đương mẫu động cơ 1,5 kW trong báo cáo STIEE; động cơ công suất nhỏ thường có hiệu suất thấp hơn nên dòng thực tế có thể cao hơn), đọc nhãn tủ trước khi chọn CB |
| DF-55 | 5,5 m | 1,3 kW | 380 V hoặc 220 V | 3 pha hoặc 1 pha, chốt khi đặt hàng | 3,3 A (bản 380 V). Bản 220 V: bảng thông số chưa có số riêng cho bản 220 V; ước tính sơ bộ phía nguồn vào khoảng 7 A (giả định hiệu suất và cosφ tương đương mẫu động cơ 1,5 kW trong báo cáo STIEE; động cơ công suất nhỏ thường có hiệu suất thấp hơn nên dòng thực tế có thể cao hơn), đọc nhãn tủ trước khi chọn CB |
| DF-50 | 5,0 m | 0,75 kW | 220 V | 1 pha (L, N + PE) | 2,9 A |
| DF-45 | 4,5 m | 0,5 kW | 220 V | 1 pha (L, N + PE) | 2,9 A |
| DF-40 | 4,0 m | 0,5 kW | 220 V | 1 pha (L, N + PE) | 2,9 A |
| DF-35 | 3,5 m | 0,5 kW | 220 V | 1 pha (L, N + PE) | 3,0 A |
| DF-30 | 3,0 m | 0,5 kW | 220 V | 1 pha (L, N + PE) | 3,0 A |
Với DF-60 và DF-55, nếu xưởng đã có nguồn 3 pha tới khu vực lắp, bản 380 V thường dễ đi dây hơn: cùng 1,3 kW, bản 380 V có dòng đầy tải 3,3 A theo bảng thông số, còn bản 220 V ước tính sơ bộ khoảng 7 A trên một pha (bảng thông số chưa có số riêng cho bản 220 V), và tải của quạt tự chia đều trên ba pha nên không cần tính chia pha. Bản 220 V hợp với khu vực chỉ có điện 1 pha, ví dụ nhà kho phụ, trang trại hoặc dãy văn phòng nhà xưởng. Bản 380 V cấp bằng ba dây pha và dây bảo vệ PE; tủ 3 pha không dùng dây trung tính.
Chia quạt 220 V đều lên L1, L2, L3: cách xếp và vì sao dây trung tính không được đi nhỏ hơn dây pha
Hầu hết nhà xưởng ở khu công nghiệp nhận điện 3 pha 4 dây 380/220 V. Mỗi quạt 220 V lấy điện giữa một pha và dây trung tính. Nếu đội thi công cứ đấu hết quạt vào pha nào tiện tay, ví dụ pha L1 chạy dọc tường, thì một pha gánh cả dãy còn hai pha kia nhẹ. Hậu quả là điện áp pha đó tụt khi cả dãy chạy, dòng trên dây trung tính tăng, và CB tổng có thể nhảy vì quá tải một pha dù tổng tải của xưởng chưa lớn.

Nguyên tắc xếp. Đếm số quạt 220 V, chia cho 3, xếp quạt lần lượt L1, L2, L3, L1, L2, L3 theo thứ tự dọc dãy thay vì dồn một nửa xưởng vào một pha. Cách xếp xen kẽ có hai lợi ích: khi bật một nửa dãy, ba pha vẫn gần đều; và khi một pha mất điện, xưởng chỉ mất một phần ba số quạt rải đều trên mặt bằng chứ không để cả một đầu xưởng mất gió.
| Dãy quạt | Pha L1 | Pha L2 | Pha L3 | Công suất mỗi pha |
|---|---|---|---|---|
| 12 × DF-45 (0,5 kW) | 4 quạt | 4 quạt | 4 quạt | 2,0 kW mỗi pha |
| 9 × DF-50 (0,75 kW) | 3 quạt | 3 quạt | 3 quạt | 2,25 kW mỗi pha |
| 6 × DF-60 bản 220 V (1,3 kW) | 2 quạt | 2 quạt | 2 quạt | 2,6 kW mỗi pha |
| 10 × DF-40 (0,5 kW) | 4 quạt | 3 quạt | 3 quạt | 2,0 / 1,5 / 1,5 kW |
| 4 × DF-50 + 6 × DF-35 | 2 × DF-50 + 1 × DF-35 | 2 × DF-50 + 1 × DF-35 | 4 × DF-35 | 2,0 / 2,0 / 2,0 kW |
Chia đều theo số quạt chỉ đúng khi các quạt cùng công suất. Dãy lẫn model như hàng cuối phải chia theo kW, không theo số chiếc. Việc cân pha của dãy quạt cũng chỉ là một phần: kỹ sư điện của xưởng vẫn phải xem tải sẵn có trên từng pha (máy hàn 1 pha, ổ cắm, chiếu sáng) để đặt quạt vào pha đang nhẹ.
Dây trung tính. Biến tần 1 pha có bộ chỉnh lưu hút dòng theo xung, sinh sóng hài, trong đó bậc 3 nổi bật (phân tích sóng hài và hệ số công suất xem bài hệ số công suất quạt trần công nghiệp). Khi ba pha cân bằng, dòng cơ bản của ba pha triệt tiêu nhau trên dây trung tính, nhưng dòng hài bậc 3 lại cộng dồn. Vì vậy với dãy quạt 220 V, dây trung tính không nhỏ hơn dây pha; đừng làm nhỏ theo thói quen "ba pha cân bằng thì trung tính gần như không có dòng". Khi sóng hài bậc 3 lớn, kỹ sư điện có thể phải chọn dây trung tính lớn hơn dây pha ngay từ khâu thiết kế. Mức hài thực tế của tủ quạt DF MEILILE chưa công bố; phép đo dòng trung tính khi bàn giao (phần cuối bài) dùng để kiểm chứng.
Mỗi nhánh mấy quạt, CB và RCBO chọn theo dòng nào: cách tính và hai ví dụ
Sơ đồ thường gặp cho một dãy quạt có ba cấp: CB tổng của tủ phân phối khu vực, CB nhánh gom một nhóm quạt cùng pha (hoặc nhóm quạt 380 V), và một CB riêng đặt ngay trước từng tủ biến tần. CB riêng cho từng quạt giúp cắt điện một quạt khi bảo trì mà các quạt khác vẫn chạy, và một quạt lỗi không kéo theo cả nhánh. Theo hướng dẫn đi kèm, tủ biến tần có thể lắp thêm công tắc nguồn (tùy chọn); công tắc này không thay cho thiết bị bảo vệ quá dòng.

Bước 1: dòng thiết kế Ib. Lấy dòng đầu vào ghi trên nhãn tủ biến tần. Khi chưa có nhãn, dùng dòng đầy tải theo bảng thông số MEILILE ở bảng trên để tính sơ bộ: 3,0 A cho DF-73; 3,3 A cho DF-65, DF-60 và DF-55; 2,9 A cho DF-50, DF-45 và DF-40; 3,0 A cho DF-35 và DF-30. Bảng thông số chưa ghi rõ dòng này đo ở phía nào và ở điện áp nào cho từng model; chọn CB theo dòng đầu vào ghi trên nhãn tủ biến tần. Riêng DF-60 và DF-55 bản 220 V, bảng thông số chưa có số riêng, nên con số khoảng 7 A ở bảng trên là ước tính sơ bộ phía nguồn vào, dùng η và cosφ của động cơ: I = P / (U × cosφ × η) = 1.300 / (220 × 0,955 × 0,852) ≈ 7,3 A, tức khoảng 7 A. Ở đây η = 85,2% và cosφ = 0,955 là hiệu suất định mức và cận dưới hệ số công suất trong báo cáo thử nghiệm STIEE của động cơ PMSM 1,5 kW 380 V (mẫu A380-1500). Động cơ công suất nhỏ thường có hiệu suất thấp hơn, và biến tần 1 pha có hệ số công suất thực thấp hơn do sóng hài, nên dòng thực tế có thể cao hơn; đọc nhãn tủ trước khi chọn CB.
Bước 2: dòng định mức In của CB. Nguyên tắc phối hợp quen thuộc trong thiết kế điện hạ áp là Ib ≤ In ≤ Iz, tức dòng định mức của CB không nhỏ hơn dòng thiết kế của mạch và không lớn hơn khả năng mang dòng của dây đã hiệu chỉnh theo điều kiện lắp. Chọn In theo cấp dòng chuẩn ngay trên Ib, sau đó kiểm tra lại với dây.
Bước 3: đặc tính cắt. Quạt DF không khởi động trực tiếp: hướng dẫn vận hành ghi rằng khi bấm chạy, tần số hiển thị tăng dần từ 0,00 Hz, nên động cơ không hút dòng khởi động gấp nhiều lần như động cơ không đồng bộ đóng thẳng vào lưới. Điều cần lưu ý là xung nạp tụ một chiều trong tủ biến tần ở thời điểm đóng điện, đặc biệt khi nhiều tủ cùng được đóng một lúc từ CB nhánh. Đặc tính cắt của CB nhánh và có cần đóng điện lần lượt từng quạt hay không do kỹ sư điện của nhà xưởng chốt theo tài liệu biến tần.
Bước 4: chống dòng rò bằng RCD (CB chống giật) và RCBO. Tủ biến tần thường có bộ lọc nhiễu nối xuống đất, nên thường có một dòng rò nhỏ ngay cả khi không lỗi. Gom quá nhiều tủ sau một RCD dễ làm nó nhảy khi không có lỗi thật; dùng RCBO cho từng nhánh nhỏ, hoặc từng quạt, giúp khoanh vùng. Biến tần 1 pha và biến tần 3 pha cần loại RCD khác nhau; loại cụ thể chọn theo hướng dẫn của hãng biến tần và tiêu chuẩn điện hiện hành, do kỹ sư điện của nhà xưởng tính. MEILILE chưa công bố số liệu dòng rò của tủ biến tần quạt DF.
Ví dụ 1: 12 chiếc DF-45, mỗi pha một nhánh 4 quạt. Lấy dòng đầy tải theo bảng thông số MEILILE 2,9 A mỗi quạt, mỗi nhánh 4 × 2,9 = 11,6 A. Giả sử nhánh dài 60 m tính tới quạt xa và toàn bộ dòng coi như dồn ở cuối (cách tính thiên về an toàn), sụt áp một pha ΔU = 2 × I × L × ρ / S = 2 × 11,6 × 60 × 0,0225 / S với ρ đồng khoảng 0,0225 Ω·mm²/m: dây 2,5 mm² cho khoảng 12,5 V (5,7% của 220 V), dây 4 mm² khoảng 7,8 V (3,6%), dây 6 mm² khoảng 5,2 V (2,4%). Đây là số sơ bộ; khi có nhãn tủ, thay bằng dòng đầu vào ghi trên nhãn và tính lại.
Ví dụ 2: 6 chiếc DF-73 trên một nhánh 3 pha. Lấy dòng đầy tải theo bảng thông số MEILILE 3,0 A mỗi quạt, dòng mỗi pha 6 × 3,0 = 18,0 A; tổng công suất danh định 6 × 1,6 = 9,6 kW. Nhánh dài 80 m, sụt áp ba pha ΔU = √3 × I × L × ρ / S = √3 × 18,0 × 80 × 0,0225 / S: dây 4 mm² khoảng 14,0 V (3,7% của 380 V), dây 6 mm² khoảng 9,4 V (2,5%). Đây là số sơ bộ; khi có nhãn tủ, thay bằng dòng đầu vào ghi trên nhãn và tính lại. Mức sụt áp chấp nhận được do kỹ sư điện của xưởng chốt; hai ví dụ cho thấy với dãy quạt dài, sụt áp thường quyết định tiết diện trước cả khả năng mang dòng.
Tiết diện dây điện quạt trần: tra theo khả năng mang dòng rồi kiểm tra sụt áp
Không có một tiết diện "chuẩn" cho dây điện quạt trần công nghiệp, vì cùng một quạt nhưng đặt ở cuối xưởng 100 m và đặt cạnh tủ điện thì cần dây khác nhau. Trình tự tra gồm ba bước, làm theo thứ tự:

- Khả năng mang dòng. Tra bảng khả năng mang dòng của cáp theo tiêu chuẩn điện hiện hành và catalog cáp, với đúng loại ruột (đồng hay nhôm), loại cách điện và cách lắp (trong ống, trên máng, treo theo cáp thép).
- Hệ số hiệu chỉnh. Mái tôn nhà xưởng mùa nắng làm nhiệt độ sát mái cao hơn nhiều so với mặt sàn, và dây quạt thường chạy đúng vùng đó; nhiều mạch đi chung một máng cũng làm giảm khả năng mang dòng. Cả hai đều phải nhân hệ số hiệu chỉnh trước khi so với In.
- Sụt áp. Tính tới quạt xa trong nhánh như hai ví dụ ở trên. Biến tần có ngưỡng báo lỗi thấp áp; dây nhỏ cộng với lúc cả xưởng đang tải nặng có thể đẩy điện áp tới quạt cuối dãy xuống gần ngưỡng đó.
Ngoài ba bước trên, với nhánh quạt 220 V dây trung tính không nhỏ hơn dây pha như đã nói (có thể phải lớn hơn khi sóng hài bậc 3 lớn), và dây PE đi kèm trong cùng tuyến. Đoạn dây từ CB riêng tới tủ biến tần và đoạn cáp từ tủ lên động cơ thuộc bộ quạt; đoạn đó đi theo sơ đồ trong hướng dẫn lắp đặt và bài đấu nối tủ biến tần.
Nếu xưởng dùng chung một máng cáp cho nhiều nhánh quạt dọc theo xà gồ, ghi nhãn từng nhánh ở cả hai đầu (tên nhánh, pha, số quạt). Khi một quạt cần bảo trì, thợ điện biết ngay phải cắt CB nào, và người kiểm tra cân pha về sau cũng không phải dò lại từng sợi.
Tiếp địa và đẳng thế: vỏ tủ, khung quạt, kết cấu treo
Sơ đồ nối dây trong hướng dẫn đi kèm quạt DF có ký hiệu "tiếp địa bảo vệ" ở cả bản 220 V và bản 380 V: tủ biến tần có cực tiếp địa riêng và phải được nối dây bảo vệ. Với một dãy quạt, việc tiếp địa có ba điểm cần làm đúng:

- Dây PE đi theo từng nhánh về thanh tiếp địa của tủ phân phối, không lấy vỏ máng cáp hay ống thép làm đường tiếp địa duy nhất.
- Khung động cơ nối về cực tiếp địa của tủ biến tần qua dây tiếp địa trong cáp động cơ, để vỏ động cơ trên cao và vỏ tủ đặt ở chân cột cùng một điện thế.
- Kết cấu treo bằng thép (vì kèo, xà gồ, bộ treo) được nối vào hệ liên kết đẳng thế chung của nhà xưởng theo thiết kế điện của công trình; không coi việc quạt treo lên khung thép là đã được tiếp địa.
Hệ thống tiếp địa của nhà xưởng (cọc, điện trở nối đất, sơ đồ nối đất) là phần của công trình, do kỹ sư điện của nhà xưởng thiết kế và đo theo tiêu chuẩn điện hiện hành. Bộ quạt chỉ cần được nối đúng vào hệ đó. Việc đấu nối, đo kiểm tiếp địa do thợ điện có chứng chỉ thực hiện. Người không có chuyên môn không tự mở tủ điện hay tủ biến tần. Sau khi cắt điện, tụ trong biến tần vẫn giữ điện áp một thời gian; chờ đủ thời gian ghi trên tủ và đo kiểm không còn điện trước khi chạm vào cực nối.
Đi kèm phần tiếp địa là một lưu ý về an toàn cơ khí: dây cáp từ tủ lên động cơ phải đi dọc kết cấu treo, được kẹp chắc và có độ chùng ở chỗ nối vào động cơ để rung khi chạy không kéo căng cực nối. Phần điểm treo chịu tải gấp 6 lần khối lượng tịnh của quạt (ví dụ DF-73 nặng 110 kg thì điểm treo thiết kế cho 660 kg) được trình bày trong bài cách lắp đặt quạt trần công nghiệp.
Dây vào tủ và dây ra động cơ: hai đoạn cáp không đi chung
Mỗi bộ quạt có hai đoạn cáp có tính chất khác nhau. Đoạn nguồn vào từ CB riêng tới cực L, N (hoặc L1, L2, L3) của tủ là điện lưới 50 Hz. Đoạn ra từ cực U, V, W lên động cơ là điện áp xung do biến tần tạo ra để điều khiển tốc độ. Cách đấu từng cực của một tủ đã có trong bài biến tần quạt trần công nghiệp; ở cấp cả dãy, có bốn điều cần giữ:

- Không đấu nguồn lưới vào U, V, W. Nhầm đầu vào với đầu ra là lỗi làm hỏng biến tần ngay khi đóng điện. Ghi nhãn rõ hai đầu cáp trước khi kéo lên cao.
- Không đi chung ống cáp động cơ với cáp nguồn vào hoặc dây tín hiệu, điều khiển; cáp động cơ là nguồn nhiễu cao tần.
- Không chèn thiết bị đóng cắt, tụ điện hay thiết bị đo vào giữa tủ biến tần và động cơ nếu tài liệu biến tần không cho phép.
- Không đấu vào các cực bên trong tủ. Hướng dẫn đi kèm quạt ghi rõ các cực bên trong là cực nội bộ của biến tần, người dùng không được đấu dây vào đó.
Với tủ 380 V, đảo thứ tự hai pha nguồn vào không làm quạt đổi chiều, vì chiều quay do biến tần quyết định ở phía U, V, W. Đổi chiều quạt thực hiện bằng cài đặt trên biến tần, theo hướng dẫn của kỹ thuật viên MEILILE; không tự đảo dây phía động cơ.
Không đi chung mạch với đèn nhà xưởng và cầu trục: ba cái bẫy hay gặp
Ba tình huống dưới đây gặp nhiều ở xưởng cải tạo, khi quạt được thêm vào sau và đội thi công tìm mạch có sẵn ở gần để lấy điện.

Bẫy 1: lấy điện từ mạch đèn cao áp hoặc đèn LED nhà xưởng. Mạch đèn thường chạy sẵn trên cao, sát vị trí treo quạt, nên rất tiện. Nhưng bộ nguồn của đèn LED và tủ biến tần đều là tải điện tử thường có sóng hài và dòng rò; gom chung sau một RCD thì thiết bị này có thể nhảy mà không có lỗi thật, và khi nó nhảy thì cả quạt lẫn đèn của khu vực cùng tắt. Chiếu sáng nhà xưởng còn thường có yêu cầu riêng về độ tin cậy cấp điện (chiếu sáng duy trì, chiếu sáng sự cố); ghép quạt vào sẽ làm sự cố của quạt ảnh hưởng tới đèn.
Bẫy 2: dùng chung nhánh với cầu trục hoặc palăng. Động cơ nâng hạ khởi động liên tục trong ca làm việc, mỗi lần khởi động gây sụt áp tức thời trên nhánh. Biến tần quạt có thể báo lỗi thấp áp và dừng quạt giữa ca. Cầu trục cũng là lý do để khảo sát lại tuyến dây: cáp quạt không được đi trong vùng hoạt động của móc cẩu hay ray dẫn điện. Cách né cầu trục khi chọn vị trí treo xem bài thi công lắp đặt quạt trần công nghiệp.
Bẫy 3: câu dây nối từ quạt này sang quạt kia (đấu nhảy qua từng tủ). Kéo một đường dây rồi rẽ nhánh lần lượt qua các tủ biến tần nghe có vẻ tiết kiệm, nhưng mối nối ở mỗi tủ trở thành điểm hỏng chung của cả dãy, và không cắt riêng được từng quạt. Nếu buộc phải đi dây trục, dùng hộp rẽ nhánh có đầu cốt đúng quy cách và vẫn giữ CB riêng trước từng tủ.
Ngoài ba bẫy trên, nếu nhà xưởng có tủ tụ bù, việc thêm nhiều biến tần vào lưới cần được kỹ sư điện xem lại; đây là chủ đề của bài hệ số công suất và tiền mua công suất phản kháng.
Bàn giao phần điện của dãy quạt: bảy số đo ghi vào biên bản
Phần cơ khí (điểm treo, cáp an toàn, độ cân bằng cánh) đã có quy trình riêng trong bài cách lắp đặt. Với phần điện, biên bản bàn giao nên ghi số đo thật, không ghi "đạt". Các phép đo do thợ điện có chứng chỉ thực hiện bằng thiết bị đo phù hợp.

| Hạng mục | Đo ở đâu | Ghi gì vào biên bản |
|---|---|---|
| Điện áp nguồn vào tủ | Cực nguồn vào của tủ ở cuối nhánh, xa tủ phân phối | L-N (bản 220 V) hoặc L-L (bản 380 V), lúc cả dãy chạy và lúc xưởng đang tải nặng |
| Dòng từng pha | Đầu nhánh ở tủ phân phối, kìm đo dòng | Dòng L1, L2, L3 để so mức lệch tải giữa ba pha |
| Dòng dây trung tính | Dây N của nhánh quạt 220 V | Dòng N khi cả dãy chạy; dùng để kiểm tra giả định tiết diện trung tính |
| Kiểm tra thông mạch dây PE | Từ vỏ tủ biến tần và khung động cơ về thanh tiếp địa, đo khi đã cắt điện | Giá trị đo được của từng quạt |
| Thử RCD, RCBO | Từng thiết bị chống dòng rò | Có cắt khi thử hay không, thời gian cắt nếu thiết bị đo cho phép |
| Điện trở cách điện cáp | Cáp nguồn và cáp động cơ; cắt điện, khóa CB, kiểm tra không còn điện rồi mới mở tủ biến tần, tháo cáp ra khỏi tủ để đo | Giá trị từng tuyến; không đo cách điện xuyên qua biến tần |
| Chạy thử cả dãy | Bảng hiển thị của từng tủ | Tần số, có mã lỗi hay không, sau khi đóng điện lại cả nhánh một lần |
Mức đạt của từng hạng mục (mức mất cân bằng tải giữa ba pha bao nhiêu là chấp nhận được, điện trở cách điện tối thiểu, giới hạn sụt áp) theo tiêu chuẩn điện hiện hành, do kỹ sư điện của nhà xưởng chốt trong hồ sơ thiết kế. Biên bản nên kèm sơ đồ một sợi ghi rõ quạt nào ở pha nào, CB nào; sau này thêm quạt hay thêm máy, bảng phân pha này là thứ đầu tiên cần cập nhật.
Khi một quạt dừng và tủ hiển thị mã lỗi sau bàn giao, thứ tự đọc lỗi và các lớp tự bảo vệ của biến tần có trong bài biến tần ở trên. Trường hợp lỗi thấp áp lặp lại vào giờ cao điểm sản xuất, đối chiếu lại số đo điện áp trong biên bản trước khi kết luận do quạt.
Câu hỏi thường gặp về cấp điện quạt trần công nghiệp 3 pha
Quạt trần công nghiệp DF nào chạy điện 220 V, model nào cần điện 3 pha 380 V?
Theo bảng thông số của MEILILE: DF-73 (1,6 kW) và DF-65 (1,5 kW) chỉ có bản 380 V nguồn 3 pha; DF-60 và DF-55 (1,3 kW) có cả bản 380 V và bản 220 V; DF-50 (0,75 kW), DF-45, DF-40, DF-35 và DF-30 (0,5 kW) chỉ có bản 220 V nguồn 1 pha. Với DF-60 và DF-55, điện áp cần chốt khi đặt hàng vì tủ biến tần đi kèm khác nhau theo nguồn vào.
Xưởng có điện 3 pha thì lắp quạt trần 220 V được không?
Được. Mỗi quạt 220 V lấy một pha và dây trung tính, nên xưởng có điện 3 pha 4 dây cấp được cho quạt 220 V. Việc cần làm là chia đều số quạt lên L1, L2 và L3, ví dụ 12 chiếc DF-45 thì mỗi pha 4 chiếc. Dây trung tính không nhỏ hơn dây pha, vì dòng hài bậc 3 của các bộ chỉnh lưu 1 pha cộng dồn trên dây trung tính; khi sóng hài bậc 3 lớn, kỹ sư điện có thể phải chọn dây trung tính lớn hơn dây pha ngay từ khâu thiết kế. Phép đo dòng trung tính khi bàn giao dùng để kiểm chứng.
Quạt trần công nghiệp có dòng khởi động lớn như động cơ thường không?
Không như động cơ khởi động trực tiếp. Mỗi quạt DF chạy qua tủ biến tần riêng, tần số tăng dần từ 0 Hz khi bấm chạy, nên động cơ PMSM không hút dòng khởi động gấp nhiều lần như động cơ không đồng bộ đóng thẳng vào lưới. Lúc đóng điện cho tủ vẫn có một xung nạp tụ ngắn ở phía nguồn vào, vì vậy CB nhánh thường được chọn loại có đặc tính cắt phù hợp với tải có dòng xung khi đóng điện; loại cụ thể do kỹ sư điện của nhà xưởng chốt.
Dòng định mức của quạt DF là bao nhiêu ampe?
Dòng đầy tải theo bảng thông số MEILILE: DF-73 3,0 A; DF-65, DF-60 và DF-55 3,3 A; DF-50, DF-45 và DF-40 2,9 A; DF-35 và DF-30 3,0 A. Bảng thông số chưa ghi rõ dòng này đo ở phía nào và ở điện áp nào cho từng model; chọn CB theo dòng đầu vào ghi trên nhãn tủ biến tần. Riêng DF-60 và DF-55 bản 220 V, bảng thông số chưa có số riêng; ước tính sơ bộ phía nguồn vào khoảng 7 A, đọc nhãn tủ trước khi chọn CB.
Nên đấu bao nhiêu quạt trần trên một CB?
Không có một con số chung. Cách làm thường gặp là mỗi quạt có một CB riêng ngay trước tủ biến tần, nhiều quạt cùng pha gom về một CB nhánh ở tủ phân phối, và số quạt mỗi nhánh được tính sao cho tổng dòng thiết kế Ib không vượt quá dòng định mức In của CB, In không vượt quá khả năng mang dòng Iz của dây, và sụt áp tới quạt cuối nhánh nằm trong mức kỹ sư điện chốt. Như vậy một quạt lỗi chỉ cắt riêng quạt đó.
Có được đi chung mạch quạt trần với đèn nhà xưởng hoặc cầu trục không?
Không nên. Đèn LED nhà xưởng và tủ biến tần thường đều có dòng rò và sóng hài, gom chung sau một thiết bị chống dòng rò có thể làm thiết bị này nhảy khi không có lỗi thật. Cầu trục có động cơ lớn khởi động thường xuyên, gây sụt áp tức thời có thể làm biến tần quạt báo lỗi thấp áp. Nên tách quạt thành nhánh riêng từ tủ phân phối, do thợ điện có chứng chỉ thực hiện.
Nguồn số liệu trong bài: công suất, điện áp, dòng đầy tải và khối lượng tịnh lấy từ bảng thông số quạt trần DF của MEILILE; sơ đồ nguồn vào 1 pha và 3 pha, cực tiếp địa và lưu ý về cực nội bộ lấy từ hướng dẫn lắp đặt quạt trần PMSM đi kèm quạt; hiệu suất định mức 85,2% và hệ số công suất 0,955–0,996 lấy từ báo cáo thử nghiệm STIEE số 21IAX2405Y01-0614.2(XG) của động cơ PMSM 1,5 kW 380 V (mẫu A380-1500), do hãng chế tạo thượng nguồn nắm giữ. Số dòng khoảng 7 A của DF-60, DF-55 bản 220 V, sụt áp và chia pha là ví dụ MEILILE tự tính, không phải số đo; điện trở suất đồng lấy giá trị thông dụng 0,0225 Ω·mm²/m. Bài không thay cho thiết kế điện của công trình.
Bài viết liên quan: Biến tần quạt trần công nghiệp · Hệ số công suất quạt trần công nghiệp · Cách lắp đặt quạt trần công nghiệp · Thi công lắp đặt quạt trần công nghiệp · Chi phí tiền điện quạt công nghiệp
